Béo phì là bệnh gì? Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và phòng ngừa

Số lần xem941
Béo phì: căn bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi hiện nay
Béo phì: căn bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi hiện nay

Hiện tại thế giới đang có 3 căn bệnh “đại dịch” luôn đi kèm với nhau là tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư. Gần đây, một căn bệnh được xem là “đại dịch” thứ 4 chính là bệnh béo phì. Béo phì là nguyên nhân chính gây ra các bệnh khác như tim mạch, đái tháo đường. Bài viết dưới đây Heal Central xin chia sẻ tất cả các câu hỏi liên quan đến bệnh béo phì như: Nguyên nhân gây ra bệnh béo phì? Tác hại của bệnh béo phì? Biến chứng do bệnh béo phì?.

Béo phì là bệnh gì?

Thừa cân và béo phì xảy ra khi chất béo dư thừa tích tụ lại dưới dạng mỡ (có thể khu trú hoặc toàn thân, hoặc cả hai) làm tăng nguy cơ đối với sức khỏe. Béo phì đã và đang trở thành một dịch bệnh lớn trong 50 năm qua. Gánh nặng mà béo phì gây thiệt hại kinh tế cho Hoa Kỳ ước tính vào khoảng 100 tỷ USD mỗi năm.

Hiện nay béo phì không còn là vấn đề chỉ của riêng các nước phát triển nữa mà nó đang phát triển với tốc độ rất nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Ảnh: Xu hướng tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên (tuổi đã điều chỉnh) và người từ 2-19 tuổi (Hoa Kỳ, từ 1999–2000 đến 2015–2016). Nhìn chung xu hướng béo phì tăng dần ở cả hai lứa tuổi, và tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành luôn cao hơn trẻ em và thanh thiếu niên.
Ảnh: Xu hướng tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên (tuổi đã điều chỉnh) và người từ 2-19 tuổi (Hoa Kỳ, từ 1999–2000 đến 2015–2016). Nhìn chung xu hướng béo phì tăng dần ở cả hai lứa tuổi, và tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành luôn cao hơn trẻ em và thanh thiếu niên.

Nguyên nhân gây bệnh béo phì

Nguyên nhân của béo phì là do sự mất cân bằng giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao. Khi năng lượng nạp vào cơ thể quá nhiều mà năng lượng tiêu hao lại mất đi không đáng kể, cân bằng năng lượng dương, cơ thể sẽ tích trữ năng lượng dư thừa dưới dạng mỡ, gây nên béo phì.

Mỡ có thể tích trữ dưới dạng mỡ nội tạng hoặc mỡ dưới da, và chỉ có mỡ nội tạng mới gây nguy hại, còn mỡ dưới da không gây nguy hiểm gì cho bệnh nhân, ngoại trừ vấn đề về thẩm mỹ.

Các yếu tố thuộc về bệnh nhân

Sử dụng các thực phẩm quá giàu calories (ví dụ: đồ uống có đường, bánh kẹo ngọt, đồ ăn chiên rán nhiều dầu mỡ): Tăng năng lượng nạp vào.

Lười hoạt động thể lực: Giảm năng lượng tiêu hao.

  • Lối sống tĩnh tại, ngồi nhiều: Giảm năng lượng tiêu hao.
  • Ngủ quá ít hoặc quá nhiều: Cả hai đều có thể gây ra những rối loạn sinh lý có thể gây béo phì.
  • Yếu tố di truyền: Nếu bố hoặc mẹ béo phì thì con có cũng có nguy cơ bị béo phì. Nguy cơ còn cao hơn khi cả bố và mẹ đều bị béo phì.
  • Một số tình trạng bệnh lý cũng có thể làm phát triển béo phì (ví dụ: Hội chứng Cushing, một tình trạng gây ra tăng tiết các corticoid nội sinh).
  • Một số tình trạng tâm lý cũng ảnh hưởng đến cân nặng (ví dụ: trầm cảm, stress kéo dài do cơ thể đáp ứng bằng cách tăng tiết các corticoid nội sinh).
  • Một số thuốc có thể gây béo phì (ví dụ: các corticoid ngoại sinh có tác dụng tương tự corticoid nội sinh, khi sử dụng kéo dài có thể gây hội chứng giả Cushing do thuốc).
Nguy cơ gây ra béo phì do bản thân người bệnh
Nguy cơ gây ra béo phì do bản thân người bệnh

Các yếu tố thuộc về môi trường

  • Thiếu khu vực để tập luyện thể dục thể thao: Yếu tố khách quan này hoàn toàn có thể thay đổi dễ dàng bằng việc tự tập luyện tại nhà.
  • Thiếu khu vực bán các thực phẩm lành mạnh: Đây cũng là yếu tố khách quan và có thể thay đổi được.

Mặc dù là một yếu tố khách quan, môi trường xung quanh bệnh nhân cũng được xem là ảnh hưởng đến nguy cơ béo phì trên bệnh nhân. Người ta tập trung vào 2 yếu tố môi trường chính liên quan đến béo phì: Thứ nhất là thiếu các khu vực dành cho bệnh nhân tập luyện thể dục thể thao. Thứ hai là thiếu các khu vực bán thực phẩm lành mạnh trong khu vực. Mặc dù sự hiện diện của các địa điểm có thể tập thể dục thể thao trong khu vực cho thấy làm tăng khả năng người trong khu vực đó tập thể dục thể thao, nhưng yếu tố thứ hai, thiếu các khu vực bán thực phẩm lành mạnh, được cho là đóng vai trò quan trọng hơn. Điều này thúc đẩy chính quyền các địa phương nên quy hoạch các địa điểm tập thể dục thể thao cũng như bán thực phẩm lành mạnh sao cho phù hợp.

  • Rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột: Điều này gây ra các vấn đề về tiêu hóa, có thể gây thừa cân và béo phì nêu kích thích sự thèm ăn của bệnh nhân.
  • Virus: Đã có bằng chứng cho thấy một số virus cũng có thể gây ra béo phì.
  • Một số chất hóa học trong thực phẩm, đồ nhựa gia dụng… gây rối loạn nội tiết, có thể làm tăng tiết các hormon có thể gây tăng cân, béo phì.
  • Sự kỳ thị người thừa cân và béo phì, bao gồm cả trên mạng xã hội (body shaming). Điều này có thể làm một người rơi vào trầm cảm, stress và làm tình trạng béo phì trở nên trầm trọng hơn.
  • Quan hệ xã hội: Nếu một người có bạn bè bị béo phì thì bản thân người đó cũng có nguy cơ béo phì cao hơn.

Di truyền

Di truyền đóng một vai trò quan trọng bệnh học béo phì. Tuy nhiên một người mang gen có thể gây béo phì (ví dụ: biến thể của locus FTO [rs9939609]) không có nghĩa là họ chắc chắn sẽ bị béo phì. Người mang gen này có bị béo phì hay không còn phụ thuộc vào lối sống của bệnh nhân. Nếu họ có lối sống lành mạnh, hạn chế được nhiều yếu tố nguy cơ khác có thể gây béo phì (như sử dụng thực phẩm lành mạnh, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao) thì có khả năng cao họ sẽ không bị béo phì. Nghiên cứu về mối liên quan giữa di truyền và béo phì là một vấn đề cực kỳ phức tạp và hiện nay vẫn còn nhiều bí ẩn.

Ngoài ra, việc bố và/hoặc mẹ béo phì làm tăng nguy cơ béo phì ở người con không chỉ có yếu tố gen, mà ở đây còn có cả yếu tố lối sống. Con cái sống cùng bố mẹ từ nhỏ nên thường có xu hướng bắt chước lối sống của cha mẹ, bao gồm chế độ ăn uống, xu hướng rèn luyện thể lực… Nếu người bố và/hoặc mẹ ăn uống không lành mạnh, lười hoạt động thể lực… thì rất có thể người con cũng sẽ có lối sống như vậy và dẫn đến tăng nguy cơ thừa cân hoặc béo phì.

Người mẹ tăng cân quá nhiều trong quá trình mang thai cũng là một yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ thừa cân hoặc béo phì ở trẻ sinh ra.

Chế độ ăn uống

15% số ca tử vong ở Hoa Kỳ năm 2000 là do thừa cân, do chế độ ăn uống kém và lười hoạt động thể chất. Trong khi đó, chế độ ăn uống thực sự là một yếu tố có thể thay đổi được, và trên thực tế điều chỉnh chế độ ăn uống gần như là biện pháp bắt buộc và trung tâm trong điều trị béo phì, cùng với tăng cường hoạt động thể lực.

Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy bằng chứng rất khả quan rằng, bất kể cho chế độ ăn uống của bạn là gì, thì chỉ cần nó giúp bạn giảm được cân nặng thì có nghĩa là nó đã đem lại hiệu quả tích cực. Giảm được cân nặng chính là then chốt của vấn đề. Chỉ cần giảm được cân nặng thì bệnh nhân béo phì đã giảm được rất nhiều nguy cơ xảy ra các biến chứng khác, đặc biệt là các biến cố trên tim mạch.

Một chế độ ăn uống được cho là lành mạnh cho bệnh nhân béo phì là một chế độ ăn cân đối các thành phần, ưu tiên các thực phẩm tươi, ở dạng nguyên bản hơn là các thực phẩm đã qua chế biến sẵn. Các loại thực phẩm được cho là tốt cho bệnh nhân béo phì bao gồm: Các loại thịt nạc tươi, bao gồm thịt lợn, thịt bò, thịt gà… giàu protein, rau xanh như rau muống, rau lang, rau mồng tơi… và hoa quả tươi (cũng cần thận trọng với lượng đường trong hoa quả) giàu vitamin và khoáng chất, nguồn tinh bột từ ngũ cốc nguyên hạt (như gạo lứt, bánh mì đen, ngô, khoai lang, sắn…), các nguồn lipid từ lạc (đậu phộng), vừng, dầu oliu

Các loại thực phẩm được cho là không tốt cho bệnh nhân béo phì bao gồm: Các loại thịt nhiều mỡ, chiên rán với nhiều dầu, dầu thực vật công nghiệp, mỡ động vật, nguồn tinh bột từ ngũ cốc đã qua tinh chế (như gạo trắng, bánh mì trắng, khoai tây chiên…), các loại đồ ăn nhanh, nước uống nhiều đường (bao gồm cả nước ngọt có gas, sữa hộp chứa nhiều đường và nước ép hoa quả), bánh kẹo ngọt.

Nguy cơ hàng đầu gây béo phì đến từ chế độ ăn uống
Nguy cơ hàng đầu gây béo phì đến từ chế độ ăn uống

Bằng chứng về vai trò của đồ uống có đường gây ra bệnh béo phì mạnh mẽ đến mức nhiều quốc gia đã có những chính sách mạnh mẽ để hạn chế tiêu thụ nó như: Chính quyền Mexico hạn chế quảng cáo đồ uống có đường, chính quyền thành phố New York (Hoa Kỳ) giới hạn kích thước đồ uống có đường, một số quốc gia tăng thuế với đồ uống có đường, hay cấm bán loại đồ uống này trong trường học cho học sinh… Tuy nhiên hiện tại ở Việt Nam, các cơ chế để hạn chế người dân tiêu thụ loại đồ uống nhiều đường này còn thiếu sót.

Hoạt động thể chất, lối sống tĩnh tại và ngủ

Mức độ hoạt động thể chất thực sự quan trọng trong giảm cân. Nó có tác dụng hiệp đồng với chế độ ăn uống lành mạnh, giúp rút ngắn thời gian giảm cân, tăng cường sức khỏe, và giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch. Hầu hết các khuyến nghị đều đồng thuận rằng cần hoạt động thể chất tối thiểu là 150 phút mỗi tuần ở cường độ trung bình trở lên để duy trì cân nặng, hạn chế tăng cân. Hoạt động thể chất tối thiểu là 250 phút mỗi tuần ở cường độ trung bình trở lên giúp duy trì cân nặng đã giảm, thúc đẩy giảm cân ở người béo phì.

Lối sống tĩnh tại, đặc biệt là ngồi nhiều (hay gặp với người làm nghề văn phòng, hoặc người chơi game trên máy tính hoặc điện thoại nhiều) làm tăng nguy cơ béo phì, đặc biệt là béo phì vùng bụng.

Việc ngủ quá nhiều hoặc quá ít làm rối loạn nhịp sinh học bình thường của cơ thể và đều có thể gây ra béo phì. Trẻ em thì cần ngủ nhiều hơn người lớn. Người già cần ngủ ít hơn người trẻ. Một người trưởng thành bình thường khỏe mạnh thì ngủ 7-9 tiếng mỗi ngày là một con số hợp lý.

Yếu tố nguy cơ kinh tế – xã hội: Thu nhập và giáo dục

  • Trình độ văn hóa, giáo dục thấp, dân trí thấp: Điều này ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về những mối nguy hại có thể xảy ra do béo phì.
  • Nghèo đói: Điều này nghe có vẻ ngược đời, nhưng nó lại đang là thực trạng hiện nay tại nhiều nước đang và kém phát triển.

Khoảng gần 100 năm trước, béo phì là một bệnh có tỷ lệ thuận với tình trạng kinh tế – xã hội. Khi đó, mức sống càng cao thì tỷ lệ mắc béo phì càng lớn. Tuy nhiên, hiện nay điều này có xu hướng đi ngược lại một cách nghịch lý. Chính những người có mức sống thấp, thường là ở mức nghèo khổ hoặc dưới mức nghèo khổ, lại là nhóm người có tỷ lệ béo phì cao nhất. Điều này có thể là do sự tiếp cận thực phẩm rẻ tiền và không lành mạnh ngày càng dễ dàng (Tại Hoa Kỳ, đồ ăn của các hàng đồ ăn nhanh như KFC hay McDonald’s thuộc loại rẻ tiền và thường được người nghèo, người vô gia cư sử dụng, điều này trái ngược hoàn toàn với Việt Nam, khi mà tiếp cận các loại đồ ăn nhanh này khó khăn hơn do giá thành cao hơn nhiều so với các thực phẩm truyền thống khác). Nhìn chung, sự tương quan giữa mức sống và tỷ lệ béo phì còn phụ thuộc vào mỗi quốc gia.

Mức độ văn hóa, giáo dục, tình trạng dân trí cũng có liên quan đáng kể đến tỷ lệ béo phì trong dân số. Nhìn chung tỷ lệ béo phì tương quan nghịch với trình độ dân trí. Dân trí càng cao thì thường tỷ lệ béo phì càng thấp. Điều này có thể là do những người này được giáo dục tốt về một lối sống lành mạnh, họ hiểu được những tác hại, những ảnh hưởng bất lợi của béo phì đến sức khỏe. Tuy nhiên, một lần nữa, điều này cũng phụ thuộc vào mỗi quốc gia. Hiệu quả của giáo dục trên giảm tỷ lệ béo phì vẫn chưa quan sát được ở các nước Ấn Độ, Nigeria và Bénin, nơi cả giáo dục và sự giàu có liên quan trực tiếp đến gia tăng tỷ lệ béo phì.

Các yếu tố môi trường khác: Virus, hệ vi sinh trong cơ thể, kỳ thị xã hội và các mối quan hệ xã hội

Virus Ad-36 làm gia tăng nguy cơ béo phì
Virus Ad-36 làm gia tăng nguy cơ béo phì

Đã có một số virus được xác định là có thể làm gia tăng nguy cơ béo phì. Trong số đó, Ad-36 (Adenovirus serotype 36) là loại virus được nghiên cứu nhiều nhất. Nó cho thấy làm tăng nguy cơ béo phì rõ ràng trên động vật.

Hệ khuẩn chí đường ruột cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến nguy cơ béo phì, thông qua chuyển hóa nhiều chất như carbohydrate và lipid. Trên thực tế, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, quần thể vi khuẩn đường ruột ở những người béo phì khác với người bình thường, và khi người béo phì giảm cân, thì quần thể vi khuẩn đường ruột của họ cũng dần thay đổi giống với quần thể vi khuẩn đường ruột của người bình thường. Điều này mở ra một con đường mới trong điều trị béo phì, đó là cấy ghép phân, nhằm thay đổi hệ khuẩn chí đường ruột sao cho giống với người bình thường.

Vấn đề kỳ thị xã hội với người béo phì thực sự là một vấn đề cần quan tâm, kể cả ở các nước phát triển. Người béo phì có thể dễ bị bắt nạt hơn, cả ở ngoài đời cũng như trên mạng xã hội, vì tình trạng của mình. Điều này nếu nghiêm trọng có thể gây ra những sang chấn tâm lý nặng, làm bệnh nhân béo phì trở nên xa lánh xã hội, tự ti, trầm cảm, stress và điều này càng làm cho béo phì nặng hơn. Nguy hiểm nhất là bệnh nhân có thể tìm đến cái chết.

Quan hệ xã hội cũng là một yếu tố nguy cơ trong béo phì, mặc dù bằng chứng cho yếu tố nguy cơ này là yếu hơn các yếu tố nguy cơ khác. Nếu bạn bè của bạn béo phì, đặc biệt là có nhiều người bạn béo phì, thì bạn cũng có nguy cơ béo phì cao so với người bình thường.

Sinh lý bệnh béo phì

Rối loạn điều hòa chuyển hóa lipid và glucose, kháng insulin trong béo phì

Các nhà khoa học cho rằng việc cơ thể tích trữ acid béo tự do trong mô mỡ (dưới dạng chất béo trung tính triglyceride) là để bảo vệ cơ thể, do khi các acid béo tự do lưu hành trong máu, chúng làm tăng stress oxy hóa tế bào. Tuy nhiên trong béo phì, sự tích trữ acid béo tự do quá nhiều và vượt quá giới hạn của cơ thể, cộng với tình trạng cường giao cảm thường sẵn có ở bệnh nhân béo phì, làm tăng ly giải triglyceride trong mô mỡ, dẫn đến tăng nồng độ acid béo tự do trong máu và gây hại cho cơ thể. Điều này gây ra bệnh lý ở nhiều cơ quan (gan, tụy…), cũng như gây ra hội chứng chuyển hóa. Acid béo tự do trong máu tăng cũng làm tăng nồng độ triglyceride trong máu. Kết quả cuối cùng dẫn đến rối loạn chức năng của thụ thể của insulin, giảm đáp ứng của thụ thể này với insulin nội sinh, gây ra tình trạng kháng insulin, dẫn đến đái tháo đường type 2. Đái tháo đường type 2 gây ra một loạt các rối loạn chuyển hóa lipid, glucid và protid.

Để tìm hiểu chi tiết hơn về bệnh lý này, mời bạn đọc xem bài viết Đái tháo đường type 2.

Ảnh: Vai trò của rối loạn điều hòa chuyển hóa lipid và quá trình viêm trong béo phì. Mô mỡ trắng (WAT) giải phóng các adipokine gây viêm, gây ra các ảnh hưởng đa dạng, quan sát được ở cột bên trái (kháng insulin và đái tháo đường type 2, rối loạn chức năng nội mô, hình thành huyết khối...). Mối tương quan của chúng với hội chứng chuyển hóa được thể hiện ở cột bên phải (kháng insulin và đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, hình thành mảng vữa xơ...). Tất cả các tác động cuối cùng dẫn đến vữa xơ động mạch được nêu ở dưới cùng. DM-2 (diabete type 2): đái tháo đường type 2, FFA (free fatty acid): acid béo tự do, IL: interleukin, IRS (insulin receptor substrate): cơ chất insulin receptor, NF-κB (nuclear factor kappa B): yếu tố nhân kappa B, NS (nervous system): hệ thần kinh, PAI-1 (plasminogen activator inhibitor-1): chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, SMC (smooth muscle cell): tế bào cơ trơn, TG: triglyceride, TNF (tumor necrosis factor): yếu tố hoại tử khối u.
Ảnh: Vai trò của rối loạn điều hòa chuyển hóa lipid và quá trình viêm trong béo phì. Mô mỡ trắng (WAT) giải phóng các adipokine gây viêm, gây ra các ảnh hưởng đa dạng, quan sát được ở cột bên trái (kháng insulin và đái tháo đường type 2, rối loạn chức năng nội mô, hình thành huyết khối…). Mối tương quan của chúng với hội chứng chuyển hóa được thể hiện ở cột bên phải (kháng insulin và đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, hình thành mảng vữa xơ…). Tất cả các tác động cuối cùng dẫn đến vữa xơ động mạch được nêu ở dưới cùng.
DM-2 (diabete type 2): đái tháo đường type 2, FFA (free fatty acid): acid béo tự do, IL: interleukin, IRS (insulin receptor substrate): cơ chất insulin receptor, NF-κB (nuclear factor kappa B): yếu tố nhân kappa B, NS (nervous system): hệ thần kinh, PAI-1 (plasminogen activator inhibitor-1): chất ức chế hoạt hóa plasminogen-1, SMC (smooth muscle cell): tế bào cơ trơn, TG: triglyceride, TNF (tumor necrosis factor): yếu tố hoại tử khối u.

Vai trò cụ thể của các adipocytokines (adipokines)

Vị trí và chức năng của adipokines

Các tế bào mỡ không chỉ dự trữ triglyceride để cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động và dự trữ năng lượng để dùng cho các tình trạng thiếu năng lượng, mà còn kết hợp với nhau để tạo thành mô nội tiết lớn nhất, giao tiếp với các mô khác bằng các hormones như lectin, adiponectin và visfatin. Các hormones này (gọi là proteohormones) cùng với insulin điều hòa khối lượng mỡ trong cơ thể. Mỡ ở mông là một trường hợp đặc biệt, chúng hầu như không có chức năng nội tiết, vậy nên chúng chủ yếu được sử dụng để dự trữ năng lượng cho cơ thể. Sự phối hợp giữa các adipokines gây viêm với các acid béo tự do đã giải thích được khá đầy đủ cơ chế kháng insulin và đái tháo đường type 2 ở bệnh nhân béo phì. Các adipokines khi theo dòng máu về gan, cũng có thể gây viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH). Các adipokines cũng góp phần không nhỏ vào làm tổn thương tế bào β đảo tụy và làm nặng thêm tình trạng đái tháo đường type 2.

Vai trò cụ thể của các adipokines

Các adipokines kích thích bộ máy cận cầu thận tiết ra renin, do đó nó tạo ra tác dụng tương tự như khi hoạt hóa hệ RAA (renin-angiotensin-aldosterone). Renin xúc tác chuyển angiotensinogen trong máu thành angiotensin I, angiotensin I sau đó đến phổi lại được men chuyển angiotensin (ACE) chuyển thành angiotensin II, chất này tác dụng thông qua chủ yếu là là receptor AT1, gây co mạch, tăng tiết aldosterone và hormone chống bài niệu ADH làm tăng giữ muối và nước, gây tăng huyết áp, tăng phì đại thành thất trái thông qua yếu tố tăng trưởng… Khối lượng mỡ trong cơ thể tăng làm tăng tiết TNF-α, điều này làm nặng thêm tình trạng gan nhiễm mỡ. Bệnh nhân béo phì cũng dễ bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, mà nguyên nhân được cho là do các marker gây viêm. Các marker này bao gồm TNF-α, IL-6, protein phản ứng C (CRP), α1 acid glycoprotein và các kháng nguyên amyloid đặc hiệu, đặc biệt trong trường hợp gan nhiễm mỡ. Protein phản ứng C (CRP) và α1 acid glycoprotein cũng được điều hòa lên trong tình trạng kháng insulin, đặc biệt là các thử nghiệm lâm sàng cho thấy nồng độ hs-CRP tăng (CRP siêu nhạy) có tương quan đồng biến với nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch, và một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc statins sử dụng phổ biến điều trị rối loạn lipid máu, có thể làm giảm nồng độ hs-CRP. Các tế bào mỡ cũng kích thích các đại thực bào tiết ra một số chất trung gian hóa học đặc biệt, trong đó có các chất trung gian hóa học gây viêm, tất cả chúng đều làm nặng thêm tình trạng kháng insulin và dẫn đến đái tháo đường type 2.

Ảnh: Vai trò của quá trình viêm và rối loạn chức năng miễn dịch trong sinh lý bệnh béo phì. Rối loạn chức năng miễn dịch (cột bên trái, bao gồm stress oxy hóa lưới nội chất, tăng sinh tế bào lympho T, dẫn đến viêm, kháng insulin, tăng insulin máu và tăng đường huyết) và quá trình viêm (cột giữa có mũi tên) tương quan với tổn thương vữa xơ động mạch (cột bên phải, bao gồm nhiễm độc lipid, kích thích đại thực bào, rối loạn chức năng nội mô, tăng huyết áp, kháng insulin và đái tháo đường type 2, rối loạn phosphoryl hóa dẫn đến bất thường kênh vận chuyển GLUT4 của glucose, huyết khối, bệnh mạch vành...), cuối cùng đều dẫn đến vữa xơ động mạch.
Ảnh: Vai trò của quá trình viêm và rối loạn chức năng miễn dịch trong sinh lý bệnh béo phì. Rối loạn chức năng miễn dịch (cột bên trái, bao gồm stress oxy hóa lưới nội chất, tăng sinh tế bào lympho T, dẫn đến viêm, kháng insulin, tăng insulin máu và tăng đường huyết) và quá trình viêm (cột giữa có mũi tên) tương quan với tổn thương vữa xơ động mạch (cột bên phải, bao gồm nhiễm độc lipid, kích thích đại thực bào, rối loạn chức năng nội mô, tăng huyết áp, kháng insulin và đái tháo đường type 2, rối loạn phosphoryl hóa dẫn đến bất thường kênh vận chuyển GLUT4 của glucose, huyết khối, bệnh mạch vành…), cuối cùng đều dẫn đến vữa xơ động mạch.

CAD: bệnh mạch vành, ER: lưới nội chất, IKKβ: chất ức chế NF-κB kinase b, JNK: Jun N-terminal kinase, LDL: lipoprotein tỷ trọng thấp, MAPK: protein kinase hoạt hóa bởi mitogen, SOCS: chất ức chế tín hiệu cytokine.

Quá trình viêm mạch máu, tổn thương thành mạch, rối loạn chức năng nội mô, rối loạn lipid máu (với tăng LDL huyết tương), kháng insulin và đái tháo đường type 2 cuối cùng đều dẫn đến kết quả là vữa xơ động mạch. Ban đầu chỉ là sự hình thành của các vệt mỡ. Các đại thực bào tăng cường thực bào các LDL bị oxy hóa và trở thành các tế bào bọt. Khi các tế bào bọt này trở nên quá lớn và không thể thực bào thêm được nữa, chúng vỡ ra và nhả LDL, và cholesterol lắng đọng tại các vị trí thành mạch bị tổn thương và tạo thành mảng vữa xơ. Mảng vữa xơ sẽ lớn dần do được bồi đắp từ từ và dần bít kín lòng mạch. Khi mảng vữa xơ vỡ ra, chúng hoạt hóa tiểu cầu và gây ra hình thành các cục máu đông. Các cục máu đông này di chuyển theo dòng máu và gây tắc ở các mạch nhỏ hơn đường kính của nó, làm bệnh nhân lên cơn nhồi máu cơ tim. Sau đó, có các cytokines khác được bài tiết thêm như MCP-1, MMIF và endothelin-1, làm nặng thêm các tổn thương viêm tiến triển của các mảng vữa xơ động mạch.

Chất kích thích bài tiết chống viêm

Để chống lại việc các chất gây viêm gây ra các tổn thương, các tế bào mỡ cũng tiết ra các hormones chống viêm, như adiponectin, visfatin…, có tác dụng ức chế các adipokines gây viêm. Các hormones và protein này cũng đồng thời cũng bảo vệ cơ thể chống lại vữa xơ động mạch, cải thiện độ nhạy cảm insulin, giảm tình trạng kháng insulin và cải thiện rối loạn chức năng nội mạc mạch máu. Tác dụng có lợi này trở nên đặc biệt rõ ràng khi cơ thể thiếu các adipokines.

Leptin lại là một hormone rất đặc biệt, nó vừa có thể gây viêm vừa có thể chống viêm. Leptin có thể hoạt động như một chất kích thích bài tiết chống viêm và tiền viêm, trong đó nó giúp tăng cường độ nhạy cảm đối với insulin trong hấp thu glucose ở tế bào cơ vân nhưng đồng thời cũng thúc đẩy quá trình viêm và hình thành mạch ở các vị trí khác.

Tóm lại, các adipokines gây viêm, tình trạng kháng insulin, tăng huyết áp và huyết khối là yếu tố nguy cơ gây ra vữa xơ động mạch, đối lập với đó là các hormones chống viêm và chống vữa xơ động mạch của các tế bào mỡ, như adiponectin và visfatin, trong khi một số hoạt tính nhất định của leptin là tiền vữa xơ.

Phân loại béo phì

Một hệ thống phân loại béo phì lý tưởng sẽ có những đặc điểm sau: Phép đo lường phải thực tế (khả thi) và có sẵn một cách rộng rãi (đơn giản, phổ biến), có thể dự đoán chính xác nguy cơ sức khỏe (tiên lượng), và có thể được sử dụng để đưa ra các mục tiêu cũng như chiến lược điều trị. Các biện pháp đo lường chính xác nhất lượng mỡ có trong cơ thể (thành phần chính trong khối lượng cơ thể chịu trách nhiệm cho các hậu quả bất lợi) như đo trọng lượng cơ thể dưới nước, scan đo độ hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA), chụp cắt lớp vi tính (CT scan) và chụp cộng hưởng từ (MRI) là không thực tế (do phức tạp, đắt đỏ và thường không sẵn có) và khó có thể áp dụng trong thực hành lâm sàng. Ước tính lượng mỡ cơ thể bằng chỉ số khối cơ thể (body mass index [BMI]) và chu vi vòng eo tuy rằng có những hạn chế về độ chính xác so với các phương pháp trên, nhưng chúng vẫn cung cấp thông tin đáng tin cậy và có thể dễ dàng thực hiện trong thực hành lâm sàng. Vì vậy hiện nay các bác sĩ vẫn sử dụng các chỉ số này trong phân loại béo phì cũng như tiên lượng sức khỏe và thiết kế phác đồ điều trị.

Cách tính BMI

BMI là một thông số đơn giản, được tính toán bằng cách lấy cân nặng của một người (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao của người đó (chiều cao tính bằng mét).

Ví dụ: Nếu một người có cân nặng 69 kg, chiều cao người này là 1m77, vậy thì chỉ số BMI của người này sẽ được tính bằng:

BMI = 69/1.772 =  22 (kg/m2).

Bảng. Phân loại thừa cân và béo phì dựa trên BMI theo WHO. Tuy nhiên phân loại này chủ yếu áp dụng cho những người có gốc châu  u. Phiên giải bảng: BMI < 18.50: thiếu cân, BMI 18.50-24.99: bình thường, BMI 25.00-29.99: thừa cân (tiền béo phì), BMI 30.00-34.99: béo phì độ I, BMI 35.00-39.99: béo phì độ II, BMI ≥ 40.00: béo phì độ III. (!) Chu vi vòng eo tăng cũng có thể là một dấu hiệu tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp và đái tháo đường type 2 ngay cả ở những người có cân nặng bình thường.
Bảng. Phân loại thừa cân và béo phì dựa trên BMI theo WHO. Tuy nhiên phân loại này chủ yếu áp dụng cho những người có gốc châu  u.
Phiên giải bảng: BMI < 18.50: thiếu cân, BMI 18.50-24.99: bình thường, BMI 25.00-29.99: thừa cân (tiền béo phì), BMI 30.00-34.99: béo phì độ I, BMI 35.00-39.99: béo phì độ II, BMI ≥ 40.00: béo phì độ III.
(!) Chu vi vòng eo tăng cũng có thể là một dấu hiệu tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp và đái tháo đường type 2 ngay cả ở những người có cân nặng bình thường.

Sử dụng phân loại BMI như trên sẽ không thể áp dụng được cho các trường hợp tăng cân do tập luyện thể thao cường độ cao và có chế độ ăn uống giàu protein (như những người tập thể hình: các vận động viên thể hình có BMI cao nhưng tất cả họ không hề béo phì). BMI tương quan tốt với tỷ lệ mỡ cơ thể, nhưng mối tương quan này bị ảnh hưởng độc lập bởi giới tính, tuổi và chủng tộc, đặc biệt là ở người Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á.

Thêm vào đó, quần thể dân cư châu Á – Thái Bình Dương được biết đến là có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 và tăng huyết áp ở ngưỡng BMI thấp hơn so với quần thể dân cư châu  u do sự phân bố chất béo vùng trung tâm nhiều hơn (phân bố nhiều chất béo ở bụng, thắt lưng, thân). Do đó, WHO đã đề xuất các điểm cắt thấp hơn để xem xét can thiệp điều trị ở người châu Á – Thái Bình Dương, được trình bày trong bảng dưới.

Bảng. Phân loại thừa cân và béo phì dựa trên BMI cho người gốc châu Á - Thái Bình Dương. Nguy cơ các bệnh mắc kèm ở cột bên phải. Phiên giải bảng: BMI < 18.5: thiếu cân, BMI 18.5-22.9: bình thường, BMI 23.0-27.4: thừa cân (tiền béo phì), BMI 27.5-34.9: béo phì độ I, BMI 35.0-39.9: béo phì độ II, BMI ≥ 40.0: béo phì độ III.
Bảng. Phân loại thừa cân và béo phì dựa trên BMI cho người gốc châu Á – Thái Bình Dương. Nguy cơ các bệnh mắc kèm ở cột bên phải.
Phiên giải bảng: BMI < 18.5: thiếu cân, BMI 18.5-22.9: bình thường, BMI 23.0-27.4: thừa cân (tiền béo phì), BMI 27.5-34.9: béo phì độ I, BMI 35.0-39.9: béo phì độ II, BMI ≥ 40.0: béo phì độ III.

Béo phì trung tâm

Không chỉ có tăng khối lượng cơ thể, mà béo phì trung tâm (mỡ tập trung nhiều ở vùng bụng, thắt lưng và thân hơn so với hông và tứ chi) cũng tăng nguy cơ mắc đái tháo đường type 2, tăng huyết áp và bệnh tim mạch, ở cả nam và nữ. Ở những người gốc châu Á – Thái Bình Dương, từ lâu thì béo phì trung tâm đã được công nhận là yếu tố dự báo nguy cơ mắc các bệnh trên tốt hơn, đặc biệt là đối với đái tháo đường type 2, so với BMI. Ngưỡng để chẩn đoán béo phì trung tâm cho những người có nguồn gốc Nam Á, Nhật Bản và Trung Quốc là chu vi vòng eo > 90 cm (35.5 inches) với nam và > 80 cm (31.5 inches) với nữ.

Đo chu vi vòng eo có thể được sử dụng để xác định nguy cơ mắc đái tháo đường type 2, tăng huyết áp và bệnh tim mạch, độc lập với BMI. Đo chu vi vòng eo cũng đóng góp vai trò quan trọng trong quản lý bệnh nhân và đảm bảo tuân thủ điều trị.

Triệu chứng nhận biết bệnh béo phì

Dưới đây là một số triệu chứng của bệnh béo phì:

  • Thường xuyên thèm ăn, ăn rất nhiều.
  • Số cân tăng nhanh
  • Chân tay không hoạt bát, thường xuyên mệt mỏi
  • Không thể chạy nhanh
  • Khó ngủ vào ban đêm, thường ăn đêm
  • Thường xuyên cảm thấy nóng trong người
  • Hay bị buồn ngủ ban ngày, ngủ ngáy

Biến chứng của bệnh béo phì

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học lớn, kéo dài đã chứng minh được rằng béo phì có liên quan mạnh mẽ đến tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, do bệnh tim mạch và bệnh ung thư (Hình dưới). Béo phì có liên quan đến sự suy giảm chức năng và giảm chất lượng cuộc sống, dễ mắc các bệnh nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong cao hơn.

Ảnh: Nguy cơ tử vong tương đối do mọi nguyên nhân, do bệnh tim mạch (CVD) và ung thư theo BMI ở nam (trên) và nữ (dưới).
Ảnh: Nguy cơ tử vong tương đối do mọi nguyên nhân, do bệnh tim mạch (CVD) và ung thư theo BMI ở nam (trên) và nữ (dưới).
Ảnh: Mối liên quan giữa béo phì và các bệnh mắc kèm khác.
Ảnh: Mối liên quan giữa béo phì và các bệnh mắc kèm khác.

Các nghiên cứu quan sát đã kết luận rằng giảm cân giúp cải thiện kết quả của bệnh nhân: Giảm cân bằng phẫu thuật giúp giảm hầu hết các yếu tố nguy cơ tim mạch; Giảm cân đi kèm với hoạt động thể chất có thể ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh mạch vành liên quan đến béo phì.

Đái tháo đường

Nguy cơ mắc đái tháo đường đường type 2 có mối tương quan đồng biến với cân nặng của bệnh nhân. Cân nặng tăng đi kèm với nguy cơ đái tháo đường type 2 tăng và ngược lại, cân nặng giảm cũng đi kèm với nguy cơ đái tháo đường type 2 giảm rõ rệt. Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng giảm cân có liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ mắc đái tháo đường type 2.

Giảm cân cũng có liên quan đến việc kiểm soát đái tháo đường type 2 tốt hơn (nghiên cứu Look AHEAD).

Bệnh tim mạch

Béo phì là một yếu tố nguy cơ độc lập có thể gây ra bệnh tim mạch, được định nghĩa là bao gồm tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim (MI), đau thắt ngực, suy tim sung huyết (CHF), đột quỵ, và rung nhĩ. Nhìn chung, các nghiên cứu tiến cứu và nghiên cứu quan sát lớn (trong đó có cả nghiên cứu thuần tập đầu tiên: Nghiên cứu Tim Framingham) đều cho kết quả nhất quán về các ảnh hưởng bất lợi rất rõ rệt của béo phì trên bệnh tim mạch. Cả các nghiên cứu trong cũng như ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ đều thống nhất với nhau về quan điểm này.

Tham khảo thêm: Bệnh án tăng huyết áp: Đánh giá ban đầu, phân tích, phác đồ điều trị chuẩn

Hội chứng chuyển hóa

Sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ tim mạch thường được biết đến với tên gọi hội chứng chuyển hóa (Metabolic Syndrome). Hội chứng chuyển hóa đại diện cho một nhóm các yếu tố nguy cơ chuyển hóa bao gồm béo bụng, tăng huyết áp, nồng độ glucose huyết tương lúc đói cao, nồng độ triglyceride huyết tương cao và nồng độ lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) thấp. Hội chứng chuyển hóa có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong do các biến cố tim mạch.

Ung thư

Một số nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn cũng đã xác nhận giữa béo phì và ung thư có một mối liên quan đáng kể. Mối liên quan mạnh nhất là giữa chỉ số BMI cao và nguy cơ ung thư. Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu ở Hoa Kỳ đã cho thấy mối liên quan đáng kể giữa béo phì và ung thư.

Viêm khớp và khuyết tật

Viêm khớp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng vận động của bệnh nhân, có thể gây ra khuyết tật. Bệnh nhân có thể bị tàn tật suốt đời do mắc viêm khớp sớm trong cuộc sống. Béo phì có liên quan mạnh mẽ đến tăng nguy cơ viêm khớp gối (gối là khớp phải chịu lực nhiều nhất trong cơ thể) nhưng chỉ có sự liên quan vừa phải với viêm khớp hông. Viêm khớp gối sẽ làm cho bệnh nhân hạn chế vận động hơn, từ đó hạn chế hoạt động thể lực, làm cho khả năng giảm cân ở bệnh nhân viêm khớp gối lại càng khó khăn hơn. Như vậy giảm cân là thực sự cần thiết vì nó có thể giảm nguy cơ gây tổn hại cho khớp gối, tránh được nguy cơ tàn tật vĩnh viễn, đồng thời phục hồi chức năng cho bệnh nhân viêm khớp là một trong những mục tiêu điều trị hàng đầu khi bệnh nhân đã mắc bệnh, đặc biệt là ở khớp gối. Các nghiên cứu cũng đã xác nhận rằng giảm cân làm giảm đáng kể các triệu chứng và dấu hiệu của viêm khớp cũng như cải thiện chức năng khớp ở bệnh nhân béo phì có viêm khớp.

Béo phì làm gia tăng nguy cơ rất lớn dẫn đến viêm khớp gối và viêm khớp hông
Béo phì làm gia tăng nguy cơ rất lớn dẫn đến viêm khớp gối và viêm khớp hông

Bệnh túi mật

Bệnh túi mật là một nguyên nhân phổ biến của nhập viện, đặc biệt là ở phụ nữ và tiêu tốn khá nhiều chi phí cho chăm sóc sức khỏe. Một nghiên cứu dịch tễ học ở Anh và Scotland đã cho thấy mối liên quan đáng kể giữa béo phì và bệnh túi mật ở phụ nữ.

Viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp có liên quan chặt chẽ với béo phì, và một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng béo phì làm tăng mức độ nghiêm trọng và tử vong do viêm tụy cấp. Điều này được cho có thể là có liên quan đến sự gia tăng nồng độ triglyceride trong huyết tương ở bệnh nhân béo phì. Nồng độ triglyceride huyết tương tăng cao là một yếu tố nguy cơ, đồng thời có thể là một nguyên nhân gây viêm tụy cấp và làm nặng thêm tình trạng viêm tụy cấp.

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu đại diện cho một loạt các rối loạn, bao gồm từ thoái hóa mỡ, đến viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, cuối cùng là xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có liên quan đến béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, kháng insulin, đái tháo đường type 2 và hội chứng chuyển hóa. Khoảng 15-30% dân số chung và khoảng 70% những người mắc đái tháo đường type 2 mắc bệnh này.

Giảm cân có thể làm giảm nguy cơ bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ở bệnh nhân béo phì, tuy nhiên số lượng các bằng chứng còn hạn chế.

Biến chứng phổi

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ là một bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tắc nghẽn đường hô hấp trên, xảy ra thành các đợt lặp lại nhiều lần trong lúc ngủ. Bệnh có thể dẫn đến một số biến chứng, bao gồm tăng huyết áp động mạch phổi, tăng huyết áp kháng thuốc, suy tim phải, đột quỵ và rối loạn nhịp tim. Triệu chứng điển hình của bệnh là ngáy to, hay thức giấc và buồn ngủ vào ban ngày. Bệnh làm tăng nguy cơ mắc các biến chứng tim mạch.

Tỷ lệ hiện mắc của bệnh luôn là không quá 5% ở cả đàn ông và phụ nữ tuổi trung niên, tuy nhiên đối với bệnh nhân béo phì, tỷ lệ hiện mắc là trên 30%. Béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất với bệnh ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

Trầm cảm

Mối liên quan giữa béo phì và trầm cảm từ lâu đã được công nhận, mặc dù tính nhân quả là không rõ ràng. Điều quan trọng là, nhiều loại thuốc chống trầm cảm khi sử dụng lại có thể gây tăng cân. Điều này khiến sử dụng thuốc chống trầm cảm cho bệnh nhân béo phì (như các thuốc SSRIs: ức chế tái thu hồi serotonin) phải cẩn thận với tác dụng không mong muốn này. Các thuốc này có thể làm giảm hiệu quả giảm cân của bệnh nhân.

Tử vong

Tỷ lệ tử vong do tim mạch và không do tim mạch liên quan đến béo phì tăng cao đáng kể đã được báo cáo trong các nghiên cứu. Nhìn chung, các nghiên cứu quy mô lớn đều đã đồng tình về các tác động bất lợi của béo phì đối với tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh mắc kèm khác.

Đặc biệt, các nghiên cứu về bệnh nhân béo phì có phẫu thuật cắt dạ dày đã chứng minh được giảm đáng kể tỷ lệ tử vong. Điều này đã cho thấy giảm cân có thể làm giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân béo phì, bất kể nguyên nhân là gì.

Điều trị bệnh béo phì đơn giản tại nhà

Các phương pháp điều trị bệnh béo phì hiệu quả nhất
Các phương pháp điều trị bệnh béo phì hiệu quả nhất

Bệnh nhân béo phì cần phải giảm cân.

Chiến lược giảm cân và duy trì cân nặng bao gồm: ăn kiêng, hoạt động thể lực đều đặn, thay đổi lối sống và hành vi, sử dụng thuốc giảm cân và có thể là phẫu thuật nếu cần. Mục tiêu đầu tiên là ít nhất phải ngăn ngừa tăng cân, tiếp sau đó mới tính đến giảm cân và duy trì trọng lượng cơ thể trong thời gian dài, càng lâu càng tốt.

Hiện nay, giảm cân được khuyến cáo cho những bệnh nhân có BMI từ 25 kg/m2 trở lên hoặc có chu vi vòng eo cao (với người gốc châu Á – Thái Bình Dương là 23 kg/m2). Mục tiêu điều trị là phải giảm được 10% trọng lượng cơ thể trong thời gian 6 tháng, với tốc độ 0.5-1 kg/tuần (2-4 kg mỗi tháng). Không nên nôn nóng, giảm cân quá nhanh vì sẽ gây ra nhiều tác động bất lợi với cơ thể.

Chế độ ăn kiêng: Bệnh nhân béo phì được khuyên nên cắt giảm 500-1000 kcal/ngày so với chế độ ăn thường ngày của họ. Tổng năng lượng nạp vào cơ thể trong 1 ngày ở nữ giới 1000-1200 kcal và ở nam giới 1200-1600 kcal là thích hợp để giảm cân. Chế độ ăn quá ít calories (< 800 kcal/ngày) không chứng minh được hiệu quả giảm cân tốt hơn mà còn có thể gây ra các tác động không tốt cho cơ thể. Tổng năng lượng nạp vào cơ thể hàng ngày có thể linh động và tùy theo thể trạng bắt đầu điều trị của mỗi người, có thể cân nhắc mức năng lượng cao hơn nếu mức năng lượng thấp như trên quá khó áp dụng cho bệnh nhân.

Hoạt động thể lực làm tăng tiêu hao năng lượng và cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với giảm cân bằng chế độ ăn đơn kiêng thuần. Hoạt động thể lực nên được tăng dần dần, mục tiêu đảm bảo ít nhất 150 phút trở lên hoạt động thể lực cường độ vừa phải trong tuần. Các chiến lược hành vi bao gồm quản lý stress và hỗ trợ xã hội có thể hiệp đồng lợi ích với phương pháp ăn kiêng và hoạt động thể lực.

Thuốc giảm cân trị bệnh béo phì

Hộp thuốc Odistad 120
Hộp thuốc Odistad 120

Điều trị bằng thuốc chỉ nên được sử dụng kết hợp với các phương pháp trên khi các biện pháp này không thể giúp bệnh nhân giảm cân sau 6 tháng. Odistad là một thuốc có cơ chế ức chế lipase tụy (enzyme phân giải chất béo) đường uống, ức chế hấp thu 30% chất béo ăn vào từ ruột, được phê duyệt để điều trị béo phì lâu dài. Tác dụng phụ của nó có thể bao gồm đau bụng, đầy hơi và phân có mỡ sau bữa ăn có chứa nhiều chất béo.

Phẫu thuật giảm cân là lựa chọn cuối cùng chỉ dành cho những bệnh nhân đã sử dụng tất cả các phương pháp trên mà không thể giảm cân, những người béo phì độ III (BMI ≥ 40 kg/m2) hoặc BMI ≥ 35 kg/m2 và có các bệnh mắc kèm nghiêm trọng, cần giảm cân nhanh.

Tham khảo thêm: [Vạch trần] Viên sủi giảm cân Frujt Slim có lừa đảo không? Cách sử dụng

Phòng ngừa bệnh béo phì

Phòng ngừa là chìa khóa để kiểm soát dịch bệnh béo phì. Phương châm của ta là “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Để phòng ngừa béo phì cho bản thân, mỗi cá nhân cần tập trung vào hai yếu tố chính: Chế độ ăn uống và tập luyện thể dục.

Một chế độ ăn vừa phải và lành mạnh, cân đối giữa các thành phần sẽ giúp bạn có một sức khỏe tốt và phòng chống béo phì. Ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi, thịt tươi, hạn chế các đồ ăn chế biến sẵn, đồ ăn quá nhiều dầu mỡ hay đồ ăn quá nhiều đường do nguồn năng lượng trong chúng rất cao.

Tập thể dục thể thao thường xuyên, với cường độ vừa phải là tối thiểu. Cố gắng duy trì tập luyện ít nhất 30 phút/lần, tối thiểu 5 ngày/tuần (tổng 150 phút/tuần). Tránh ngồi lâu.

Duy trì một lối sống khoa học và lành mạnh: Giờ giấc sinh hoạt đúng giờ, ngủ đủ giấc, giữ cho bản thân một tâm trạng thoải mái, không thường xuyên buồn bực, lo lắng hay nóng giận.

Tài liệu tham khảo

Jonathan Q Purnell, MD, Definitions, Classification, and Epidemiology of Obesity

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK279167/

Xavier Pi-Sunyer, MD, The Medical Risks of Obesity,

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2879283/

F Ofei, Obesity – A Preventable Disease,

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1790820/

Adela Hruby, PhD, MPH and Frank B. Hu, MD, PhD, MPH, The Epidemiology of Obesity: A Big Picture,

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4859313/

Richard N. Redinger, MD, The Pathophysiology of Obesity and Its Clinical Manifestations,

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3104148/

Thông Tin Bài Viết
Béo phì là gì??? Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị & phòng ngừa
Tiêu đề
Béo phì là gì??? Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị & phòng ngừa
Mô tả
Béo phì là bệnh phổ biến hiện nay trong xã hội, ngoài đe dọa sức khỏe, nó còn gây ra mặc cảm của người bệnh. vậy chúng ta cùng tìm hiểu về bệnh béo phì
Tác giả
Nhà xuất bản
Tạp chí sức khỏe Heal Central (Health Education Assets Library)
Nhà xuất bản logo

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *