Quản lý lâm sàng thông khí kiểm soát áp lực: Một phương pháp thuật toán quản lý thông khí bệnh nhân

Bài viết Quản lý lâm sàng thông khí kiểm soát áp lực: Một phương pháp thuật toán quản lý thông khí bệnh nhân để giải quyết “các biến bị quên lãng nhưng quan trọng” được dịch bởi Bác sĩ Đặng Thanh Tuấn từ bài viết gốc: Clinical management of pressure control ventilation: An algorithmic method of patient ventilatory management to address “forgotten but important variables”

Tóm tắt

Thông khí kiểm soát áp lực là một chế độ thông khí thông thường được sử dụng để xử trí cả người lớn và trẻ em. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng phân biệt hiệu quả của thông khí kiểm soát áp lực so với thông khí kiểm soát thể tích ở người trưởng thành. Khoảng cách này trong các tài liệu có thể là do sự thiếu một thuật toán thống nhất và có hệ thống để quản lý thông khí kiểm soát áp lực. Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về các ứng dụng của cả thông khí kiểm soát áp lực và thông khí kiểm soát thể tích và đề xuất một cách tiếp cận thuật toán để quản lý bệnh nhân nhận được thông khí kiểm soát áp lực. Cách tiếp cận thuật toán này nhấn mạnh sự cần thiết của các bác sĩ để có một sự hiểu biết toàn diện về thông khí cơ học, sinh lý phổi và giải thích biểu đồ dạng sóng thở máy để chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân được thông khí kiểm soát áp lực. Mục tiêu của việc xác định một cách tiếp cận có hệ thống để quản lý thông khí kiểm soát áp lực là cung cấp một cách tiếp cận tổng quát hơn và công bằng hơn để quản lý bệnh nhân ICU. Lý tưởng nhất là cách tiếp cận nhất quán để quản lý thông khí kiểm soát áp lực ở người trưởng thành sẽ thu được thông tin đáng tin cậy hơn về kết quả bệnh nhân thực tế, cũng như hiệu quả của thông khí kiểm soát áp lực khi so sánh với thông khí kiểm soát thể tích.

Giới thiệu

Kiểm soát áp lực như một phương thức thông khí được phát triển vào những năm 1980 như là một lựa chọn để điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) [1]. Thông khí kiểm soát áp lực (PCV), thường có sẵn như thông khí bắt buộc liên tục kiểm soát áp lực (PC-CMV) hoặc thông khí bắt buộc ngắt quãng kiểm soát áp lực (PC-IMV), được thiết kế để cung cấp nhịp thở cơ học ở mức áp lực đặt trước, cho phép nhà lâm sàng kiểm soát mức áp lực căng (distending pressure) được áp dụng cho đường hô hấp và sau đó, đến phế nang. Bởi vì áp lực đẩy áp dụng cho đường thở được đặt trước, thể tích phân phối thay đổi và phụ thuộc vào nỗ lực hô hấp của bệnh nhân, cơ học phổi (tức là độ giãn nở phổi, sức cản đường thở và AutoPEEP) và ở mức độ thấp hơn, các cài đặt thông khí khác, bao gồm độ dốc (rise time) và thời gian hít vào (TI).

Khả năng của các bác sĩ lâm sàng để sử dụng PC-CMV để điều trị tốt nhất cho bệnh nhân có cơ học phổi thay đổi và thường xấu phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc về chế độ và cách áp dụng một cách an toàn cho kịch bản quản lý một bệnh nhân cụ thể. Mặc dù gần như tất cả các nhà sản xuất máy thở giờ đây đều có một lựa chọn cho PC-CMV hoặc PC-IMV, nhưng tương đối ít thông tin cho các bác sĩ về cách tốt nhất để sử dụng các chức năng trong các chế độ này theo cách thuận lợi nhất cho bệnh nhân của họ.

Khi xem xét các tài liệu hiện có về chủ đề quản lý bệnh nhân theo thuật toán – đặc biệt là tài liệu rõ ràng với PCV, điều quan trọng cần lưu ý là không có sự nhất quán trong cách tác giả đề cập, hoặc tiếp cận các phương pháp quản lý PCV giữa các nghiên cứu. Sự không thống nhất này có thể làm nổi bật sự thiếu đồng thuận thực sự giữa các bác sĩ hàng đầu và các nhà trị liệu hô hấp về cách tốt nhất để sử dụng thông khí kiểm soát áp lực. Bài viết này không cố gắng ra lệnh cho một cách tiếp cận quản lý; thay vào đó, mục tiêu của bài viết này là cung cấp một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về cách PC-CMV khác với các chế độ thông khí thể tích, sau đó nêu bật bản chất chi tiết của các mối quan hệ giữa cơ học phổi và cài đặt PC-CMV và cuối cùng, tuy nhiên, có hệ thống, phương pháp tiếp cận thuật toán để quản lý bệnh nhân trong ICU được thông khí bằng PC-CMV.

Chế độ thông khí kiểm soát áp lực và thể tích

Thông khí kiểm soát áp lực (PCV) là một chế độ thông khí có mục tiêu áp lực, chu kỳ thời gian (pressure-targeted, time-cycled mode). Trong thì hít vào, máy thở điều chỉnh lưu lượng để giữ áp lực đường thở ở mức đã cài đặt. Bác sĩ lâm sàng cài đặt áp lực hít vào đỉnh (PIP, peak inspiratory pressure), tần số hô hấp (f, frequency or respiratory rate), thời gian hít vào (TI), áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) và nồng độ oxy (FIO2). Các bác sĩ cũng cài đặt tốc độ mà PIP sẽ đạt được mức kiểm soát, thường được đặt tên là độ dốc (slope), tăng thời gian (rise time) hoặc đoạn đường nối (ramp), tùy thuộc vào thương hiệu của máy thở. Phương thức phổ biến nhất của PCV là kiểm soát hỗ trợ mục tiêu áp lực – pressure-targeted assist-control (PC-CMV), trong đó tần số hô hấp tối thiểu được cài đặt, nhưng bệnh nhân được phép kích hoạt thêm nhịp thở. Mỗi nhịp thở, cho dù nó được cung cấp ở tần số hô hấp cài đặt hoặc một nhịp thở bổ sung được kích hoạt bởi bệnh nhân, sẽ được phân phối tại PIP cài đặt và TI cài đặt.

Thông khí kiểm soát thể tích (VCV) là chế độ nhắm mục tiêu theo thể tích, trong đó thể tích khí lưu thông (VT), tần số hô hấp (f), PEEP, lưu lượng hít vào, kiểu dạng sóng, thời gian ngừng hít vào và thời gian hít vào là các thông số kiểm soát. Chế độ VCV phổ biến nhất là phương thức kiểm soát hỗ trợ mục tiêu thể tích – volume-targeted assist-control (VC-CMV), trong đó đặt f tối thiểu, nhưng bệnh nhân được phép kích hoạt thêm nhịp thở. Mỗi nhịp thở, bất kể nó là do bệnh nhân hay máy kích hoạt, sẽ được phân phối với thể tích khí lưu thông được cài đặt; tuy nhiên, áp lực đường thở có thể thay đổi theo sức cản đường hô hấp của bệnh nhân (Raw), độ giãn nở (C) và thay đổi nỗ lực.

Đồng bộ bệnh nhân – máy thở trong VC-CMV và PC-CMV

Mặc dù VC-CMV đảm bảo thể tích khí lưu thông, mà dường như là một chế độ lý tưởng cho “chiến lược bảo vệ phổi”, nhiều bác sĩ thích PC-CMV hơn là VC-CMV. Lý do chính cho sở thích này có lẽ là ưu thế trong đồng bộ bệnh nhân – máy thở và do đó sự thoải mái của bệnh nhân trong PC-CMV. Để đáp ứng nhu cầu hô hấp của bệnh nhân, lưu lượng và áp lực của máy thở phải đồng bộ hóa với nhu cầu hô hấp của bệnh nhân. Thực tế là một bệnh nhân có thể kiểm soát lưu lượng hít vào là khía cạnh quan trọng nhất của PC-CMV về đồng bộ hóa bệnh nhân – máy thở.

Trong PC-CMV, vì sức cản của đường hô hấp, độ giãn nở hoặc thay đổi nỗ lực của bệnh nhân, lưu lượng hít vào và thể tích khí lưu thông (VT) sẽ có khả năng thay đổi. Để có áp lực đường thở hằng định trong PC-CMV, máy thở thay đổi lưu lượng hít vào dựa trên lưu lượng hít vào của bệnh nhân. Nói cách khác, bệnh nhân thở tự nhiên có thể thay đổi lưu lượng hít vào, và do đó thể tích khí lưu thông cũng phụ thuộc vào nỗ lực hô hấp của mình, trái ngược với VC-CMV, nơi mà lưu lượng được cài đặt bởi nhà lâm sàng [2]. Khi nhu cầu lưu lượng của bệnh nhân không được đáp ứng trong VC- CMV, điều phổ biến là nhu cầu về thể tích khí lưu thông không được đáp ứng. Kết quả là, sự không đồng bộ lưu lượng thường đi kèm với sự không đồng bộ chu kỳ và kích hoạt kép.

So sánh VC-CMV với PC-CMV trong y văn

Các nghiên cứu đã được công bố kể từ đầu năm 1990 so sánh VC-CMV và PC- CMV. Một bài báo của Rittayami và cộng sự, xuất bản năm 2015, là một đánh giá toàn diện về các nghiên cứu được công bố so sánh VC-CMV với PC-CMV. Theo Rittayami, không có sự khác biệt về kết quả sinh lý hoặc lâm sàng giữa hai chế độ và điều chỉnh cài đặt thông khí dựa trên đặc điểm cá nhân của bệnh nhân có thể giúp giảm tổn thương phổi, giảm thiểu công thở và cải thiện sự thoải mái của bệnh nhân [3]. Kết quả từ Tổng quan Cochrane năm 2015 của Chacko, và cộng sự, đã tuyên bố rằng không có đủ bằng chứng cho thấy PC-CMV cải thiện kết quả cho những người bị tổn thương phổi cấp tính khi so sánh với VC-CMV. Các tác giả cho rằng không chỉ nhiều hơn, mà các nghiên cứu lớn hơn có thể cung cấp bằng chứng về việc liệu PC-CMV có cải thiện kết quả khi so sánh với VC-CMV [4] hay không.

Khi xem xét các tài liệu hiện có về chủ đề này, điều quan trọng cần lưu ý là không có sự nhất quán trong cách áp dụng thuật toán PC-CMV cho quản lý máy thở giữa các nghiên cứu. Việc thiếu một thuật toán được áp dụng liên tục trong các nghiên cứu điều tra việc sử dụng PC-CMV có thể giải thích một số khác biệt trong việc xác định sự khác biệt chính giữa kết quả của bệnh nhân thở bằng VC-CMV hoặc PC-CMV. Ví dụ, khi sử dụng VC-CMV ở bệnh nhân bị nhiễm toan hô hấp, các tùy chọn cho máy thở thay đổi để tăng cường loại bỏ CO2 thường bao gồm tăng thể tích khí lưu thông, tăng tần số hô hấp, hoặc cả hai. Khi thông khí cho bệnh nhân tương tự với PC-CMV, mặc dù các tùy chọn để tăng cường loại bỏ CO2 chủ yếu được coi là tăng áp lực hít vào và f, các tùy chọn này có thể có ít tác dụng và có thể gây hại do tăng không đồng bộ trong các điều kiện nhất định. Có một số điều chỉnh cần được xem xét ngay cả trước khi thay đổi hai biến dễ dàng và hấp dẫn để giúp loại bỏ CO2 nếu các bác sĩ hiểu đầy đủ về cơ học phổi và biểu đồ dạng sóng thông khí, có khả năng làm giảm sự không đồng bộ của máy thở bệnh nhân, ngày thở máy và hy vọng thậm chí tử vong. Thuật toán chúng tôi đề xuất trong bài viết này cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng một cách tiếp cận có hệ thống để điều chỉnh các cài đặt PC-CMV.Khi xem xét các tài liệu hiện có về chủ đề này, điều quan trọng cần lưu ý là không có sự nhất quán trong cách áp dụng thuật toán PC-CMV cho quản lý máy thở giữa các nghiên cứu. Việc thiếu một thuật toán được áp dụng liên tục trong các nghiên cứu điều tra việc sử dụng PC-CMV có thể giải thích một số khác biệt trong việc xác định sự khác biệt chính giữa kết quả của bệnh nhân thở bằng VC-CMV hoặc PC-CMV. Ví dụ, khi sử dụng VC-CMV ở bệnh nhân bị nhiễm toan hô hấp, các tùy chọn cho máy thở thay đổi để tăng cường loại bỏ CO2 thường bao gồm tăng thể tích khí lưu thông, tăng tần số hô hấp, hoặc cả hai. Khi thông khí cho bệnh nhân tương tự với PC-CMV, mặc dù các tùy chọn để tăng cường loại bỏ CO2 chủ yếu được coi là tăng áp lực hít vào và f, các tùy chọn này có thể có ít tác dụng và có thể gây hại do tăng không đồng bộ trong các điều kiện nhất định. Có một số điều chỉnh cần được xem xét ngay cả trước khi thay đổi hai biến dễ dàng và hấp dẫn để giúp loại bỏ CO2 nếu các bác sĩ hiểu đầy đủ về cơ học phổi và biểu đồ dạng sóng thông khí, có khả năng làm giảm sự không đồng bộ của máy thở bệnh nhân, ngày thở máy và hy vọng thậm chí tử vong. Thuật toán chúng tôi đề xuất trong bài viết này cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng một cách tiếp cận có hệ thống để điều chỉnh các cài đặt PC-CMV.

Kiến thức sinh lý tiên quyết liên quan đến thời gian hít vào, thời gian thở ra và áp lực hít vào trước khi sử dụng PC-CMV

Hằng số thời gian và autoPEEP

Hằng số thời gian (TC, time constant) là một mối quan hệ toán học giữa sức cản đường thở và độ giãn nở tĩnh, và liên quan đến thời gian cần để đưa khí vào và ra khỏi phổi.

Inspiratory Raw = (PIP−Pplat)/Flowrate (L/sec)

Cst = VTE/(Pplat−PEEP)

Cdyn = VTE/(PIP−PEEP)

TC = Raw x Cst

trong đó: Raw = sức cản đường thở (cm H2O/l/s); Cst = độ giãn nở tĩnh (l/cm H2O); Cdyn = độ giãn nở động (l/cm H2O); VTE = thể tích khí lưu thông (l); Pplat = áp lực cao nguyên, tương đương với áp lực phế nang trung bình ở hít vào cuối thì hít vào (cm H2O); PIP = áp lực hít vào đỉnh (cm H2O); TC = hằng số thời gian (giây).

Hai ví dụ sau chứng minh sự khác biệt về hằng số thời gian cho hai bệnh nhân. Ở bệnh nhân COPD được đặt nội khí quản và thở máy, sức cản đường thở có thể là 25 cm H2O/l/s và sự độ giãn nở có thể là 0,04 l/cm H2O. Sức cản đường thở thì thở ra sẽ cao hơn so với sức cản đường thở thì hít vào ở những bệnh nhân này, dẫn tới hằng số thời gian thở ra dài hơn [5]. Trong trường hợp này hằng số thời gian hít vào là 1,0 s (25 cm H2O/l/s × 0,04 l/cm H2O). Ở bệnh nhân ARDS được đặt nội khí quản và thở máy, sức cản đường thở có thể là 12 cm H2O/l/s và độ giãn nở có thể là 0,02 l/cm H2O. Trong trường hợp này, hằng số thời gian sẽ là 0,24 s (12 cm H2O/l/s × 0,02 l/cm H2O).

Hằng số thời gian hít vào đề cập đến thời gian hít vào cần thiết cho áp lực phế nang đạt được áp lực đã đặt trong PC-CMV. Thời gian hô hấp phải bằng ít nhất ba lần và tốt nhất là năm lần hằng số thời gian để cho áp lực phế nang để xấp xỉ áp lực hít vào cài đặt [5], [6], [7]. Nếu sức cản đường thở hoặc độ giãn nở tăng lên, hằng số thời gian hít vào sẽ tăng lên và cần thêm thời gian để áp lực phế nang đạt tới áp lực đã cài đặt. Nếu sức cản đường thở hoặc độ giãn nở phổi giảm, hằng số thời gian hít vào sẽ giảm và sẽ mất ít thời gian hơn để áp lực phế nang đạt tới áp lực đã cài đặt.

Hằng số thời gian thở ra ảnh hưởng đến lượng thời gian thở ra cần thiết để bệnh nhân thở ra một cách thụ động đến mức PEEP và ngăn ngừa AutoPEEP. Thời gian thở ra phải bằng ít nhất ba đến năm lần hằng số thời gian thở ra, cho bệnh nhân thở ra hoàn toàn và giảm thiểu hoặc ngăn ngừa AutoPEEP [6], [7]. Nếu sức cản đường thở hoặc độ giãn nở tăng lên, hằng số thời gian thở ra sẽ tăng lên, và cần nhiều thời gian hơn để thở ra hoàn toàn và ngăn ngừa AutoPEEP. Nếu sức cản đường thở hoặc độ giãn nở phổi giảm, hằng số thời gian thở ra sẽ giảm và sẽ mất ít thời gian hơn để thở ra hoàn toàn nhằm ngăn chặn AutoPEEP.

Áp lực hít vào trên PC-CMV

Trong PC-CMV, cách thức mà bác sĩ cài đặt áp lực hít vào (PI) thay đổi tùy thuộc vào máy thở cụ thể được sử dụng. Khi sử dụng một số máy thở, chẳng hạn như Servo i hoặc Servo U (Maquet), Puritan Bennett (PB) 840 hoặc 980, và Avea của CareFusion, PI được đặt trực tiếp. Nói cách khác, những thay đổi trong PEEP sẽ ảnh hưởng đến tổng áp lực nhưng không ảnh hưởng đến áp lực căng (distending pressure). Trong những trường hợp này, PIP = PI + PEEP. Trong các máy thở khác như máy thở Drager Evita XL và Drager V500, PI được đặt là sự khác biệt giữa PIP và PEEP. Nói cách khác, PIP được đặt trực tiếp và cài đặt áp lực hít vào được tham chiếu từ áp lực khí quyển chứ không phải tham chiếu theo PEEP. Đây là một sự khác biệt quan trọng – sự gia tăng trong PEEP sẽ giảm áp lực căng và ngược lại.

Áp lực phế nang trung bình được ước tính là áp lực cao nguyên (Pplat) trong thời gian ngừng cuối thì hít vào 0,5–2.0 giây. Bạn nên theo dõi và giữ Pplat < 25–30 cm H2O ở tất cả các bệnh nhân thông khí trong “chiến lược bảo vệ phổi” truyền thống. Ngoài việc theo dõi trị số tuyệt đối của Pplat, việc tăng bằng chứng đang được công bố nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhắm mục tiêu áp lực đẩy = Pplat – PEEP (ΔP) < 16 cm H2O, đặc biệt là ở những bệnh nhân ARDS nặng. Nó đã được chứng minh rằng nếu ΔP là > 16 cm H2O ở bệnh nhân ARDS nặng, nguy cơ tử vong tương đối tăng [8]. Vì vậy, cho phép một lượng khí lưu thông thấp, thậm chí < 6 ml/kg, để giữ ΔP < 16 cm H2O miễn là pH được chấp nhận, có vẻ là một thực hành hợp lý.

Khi bệnh nhân tăng nỗ lực hô hấp, áp lực màng phổi (Ppl) trở nên âm tính hơn. Trên lâm sàng, chúng ta có thể ước tính áp lực màng phổi bằng cách theo dõi áp lực thực quản (Pes). Điều này đòi hỏi phải đặt một catheter bóng thực quản vào phần xa thứ ba của thực quản ngực. Sau khi hiệu chỉnh hệ thống và đảm bảo rằng quả bóng được đặt đúng vị trí, áp lực màng phổi được ước tính bởi áp lực thực quản.

Một giá trị đôi khi được sử dụng lâm sàng được gọi là áp lực xuyên phổi – transpulmonary pressure (PL). Áp lực xuyên phổi là áp lực phế nang trung bình trừ đi áp lực màng phổi (Ppl), và phản ánh lượng căng thẳng (strain) trên phổi. Cần thận trọng để không cho phép bệnh nhân trong PC-CMV thở bằng nỗ lực hô hấp mạnh vì áp lực xuyên phổi sẽ tăng lên.

PL = Pplat – Ppl

Trong PC-CMV không có nhịp thở tự phát, nếu Pplat – PEEP (∆P) vẫn không đổi, khi mức độ giãn nở giảm, thể tích khí lưu thông sẽ giảm. Tương tự như vậy, khi tăng độ độ giãn nở, thể tích khí lưu thông sẽ tăng lên.

Cst = VTE / (Pplat – PEEP)

Cài đặt máy thở ban đầu khi khởi động PC-CMV

Khi khởi động PC-CMV, mặc dù các cài đặt dưới đây thường được sử dụng, điều rất quan trọng là cá nhân hóa bệnh nhân bằng cách đánh giá VTE, Pplat, SpO2 và biểu đồ dạng sóng ngay sau khi khởi động PC-CMV. Mặc dù thể tích khí lưu thông không được cài đặt trực tiếp, điều quan trọng là xem xét mililit trên kilogam (ml/kg) thể tích khí lưu thông liên quan đến trọng lượng cơ thể dự đoán (PBW). Các khuyến nghị hiện tại là giữ cho thể tích khí lưu thông không > 6-8 ml/kg PBW, trừ khi bệnh nhân có ARDS, trong trường hợp đó lượng khí lưu thông được đề nghị nên là 4-6 ml/kg PBW. Các khí máu động mạch (ABGs) nên được thử và đánh giá. Thay đổi thông số máy thở để đạt được mục tiêu PaCO2 được mô tả dưới đây.

Chế độ: PC-CMV: PI: 5–10 cm H2O (mục tiêu VT = 6-8 ml/kg PBW), TI: 0,7–1,0 giây, f: 10–20 BPM (với tỷ lệ I:E là 1:2), FIO2: 0,5, PEEP: 5–10 cm H2O

Hiểu biểu đồ dạng sóng thông khí cơ bản để hướng dẫn các quyết định

Một sự hiểu biết về việc sử dụng phân tích biểu đồ dạng sóng trong quá trình thông khí cơ học là chìa khóa trong việc quản lý bệnh nhân được hỗ trợ thông khí. Tầm quan trọng của việc đánh giá các dạng sóng áp lực – thời gian và lưu lượng – thời gian sẽ được thảo luận sâu dưới đây.

Dạng sóng áp lực – thời gian

Hình 1 là ví dụ về biểu đồ dạng sóng điển hình của bệnh nhân được thông khí trong PC-CMV. Trong ví dụ này, PIP 24 cm H2O, TI 0.9 s, f 20/min, PEEP 6.0 cm H2O, Độ dốc 0.20 s. Dạng sóng áp lực – thời gian (Hình 1, dạng sóng trên) cho thấy ở đầu nguồn hít vào, máy thở làm tăng áp lực đường thở từ mức PEEP 6 cm H2O lên đến PIP cài đặt là 24 cm H2O; thời gian để đạt được PIP này được cài đặt với độ dốc và trong trường hợp này, nó được đặt ở 0,20 s. Hít vào tiếp tục cho đến khi đạt được thời gian hít vào 0,90 s. Vào thời điểm đó, hít vào kết thúc và bệnh nhân được phép thở ra ở mức PEEP 6 cm H2O.

Hình 1. Dạng sóng bình thường trong PC-CMV. Dạng sóng trên biểu thị áp lực (Paw) - thời gian, dạng sóng giữa lưu lượng - thời gian và dạng sóng dưới là thể tích - thời gian.
Hình 1. Dạng sóng bình thường trong PC-CMV. Dạng sóng trên biểu thị áp lực (Paw) – thời gian, dạng sóng giữa lưu lượng – thời gian và dạng sóng dưới là thể tích – thời gian.

Dạng sóng lưu lượng – thời gian

Trên màn hình hiển thị đồ thị theo thời gian, lưu lượng hít vào được phân định ranh giới trên đường nền (baseline) và lưu lượng khí thở ra được lưu ý bên dưới đường nền. Khi nhìn vào dạng sóng lưu lượng theo thời gian (Hình 1, dạng sóng giữa) lưu lượng tăng ngay lập tức ở đầu nguồn hít vào và sau đó giảm dần trong suốt thì hít vào. Nói chung, dạng sóng lưu lượng – thời gian sẽ giảm tốc trong PC-CMV. Vào cuối thì hít vào, van hít vào đóng và van thở ra mở, cho phép bệnh nhân thở ra một cách thụ động. Nếu thời gian thở đủ dài, bệnh nhân sẽ có thể thở ra trước khi nhịp thở tiếp theo bắt đầu, và sẽ không có AutoPEEP.

Hít vào

Khi sử dụng PC-CMV, lưu lượng đỉnh phụ thuộc vào PEEP tổng, cài đặt PIP và độ dốc, cũng như sức cản đường hô hấp, độ giãn nở phổi và nỗ lực của bệnh nhân. Sự khác biệt giữa PIP và áp lực phế nang thường được gọi là ΔPInsp (PIP – áp lực phế nang). Trong hít vào, khi áp lực phế nang tăng lên, ΔPInsp giảm dần (Hình 2), dẫn đến giảm lưu lượng hít vào. Nếu thời gian hô hấp đủ dài cho áp lực phế nang cân bằng với áp lực đã cài đặt, thì dạng sóng lưu lượng của hít vào sẽ trở về đường nền (Hình 1, Dạng sóng giữa). Tuy nhiên, nếu thời gian hít vào không đủ dài để áp lực phế nang đạt đến áp lực đã cài đặt, thì dạng sóng lưu lượng của hít vào sẽ chưa trở lại đường nền. Điều này thường dẫn đến áp lực phế nang thấp hơn và giảm thể tích khí lưu thông (Hình 3, dạng sóng giữa). Nếu thời gian hô hấp tiếp tục sau khi lưu lượng hít vào đã trở về đường nền với không có lưu lượng, một tạm dừng hít vào sẽ xảy ra (Hình 4, Dạng sóng giữa).

Hình 2. Giảm DeltaPInsp trong hít vào. Hình 2 minh chứng rằng áp lực đường thở được cài đặt vẫn không đổi trong suốt hít vào, nhưng khi áp lực phế nang tăng lên, Delta PInsp (∆P) giảm.
Hình 2. Giảm DeltaPInsp trong hít vào. Hình 2 minh chứng rằng áp lực đường thở được cài đặt vẫn không đổi trong suốt hít vào, nhưng khi áp lực phế nang tăng lên, Delta PInsp (∆P) giảm.
Hình 3. Thời gian hít vào ngắn. Hình 3 chứng minh rằng nếu thời gian hít vào quá ngắn, không cho phép áp lực phế nang đạt được mức áp lực đường thở được cài đặt, thời gian hít vào kết thúc trước khi lưu lượng khí hít vào trở về đường nền (như được chỉ ra bằng mũi tên màu đỏ) và thể tích khí lưu thông giảm.
Hình 3. Thời gian hít vào ngắn. Hình 3 chứng minh rằng nếu thời gian hít vào quá ngắn, không cho phép áp lực phế nang đạt được mức áp lực đường thở được cài đặt, thời gian hít vào kết thúc trước khi lưu lượng khí hít vào trở về đường nền (như được chỉ ra bằng mũi tên màu đỏ) và thể tích khí lưu thông giảm.