Vật lý trị liệu: Các tình trạng của hông và đùi

Bài viết Vật lý trị liệu: Các tình trạng của hông và đùi của tác giả David Silver; được biên dịch bởi Bác sĩ Nguyễn Hoàng Chương.

1. Hông

Tiêm steroid vào khớp hông không còn được thực hiện phổ biến. Kỹ thuật phải áp dụng nhiều hơn so với các mũi tiêm nội khớp khác, và các bác sĩ tổng quát không nên thực hiện kỹ thuật tiêm như vậy. Hơn nữa, việc điều trị viêm xương khớp đã thay đổi hoàn toàn trong vài năm qua do sự thành công của phẫu thuật thay khớp háng và những tiến bộ rõ rệt của các bộ phận giả trong khớp háng hiện đang được trang bị. Tuy nhiên, có một số tình trạng dễ dàng điều trị trong thực tế.

1.1 Viêm bao hoạt dịch mấu chuyển lớn

Điều này có thể xảy ra trong viêm khớp dạng thấp hoặc sau chấn thương nhỏ. Bệnh nhân than phiền đau quanh hông. Khi tìm hiểu sâu hơn, rõ ràng là cơn
đau được cảm nhận về phía ngoài, trên mấu chuyển lớn xương đùi; đau nặng hơn khi nằm nghiêng về phía bị ảnh hưởng trên giường vào ban đêm. Có căng nề cục bộ xung quanh vùng mấu chuyển lớn, và có thể có cảm giác đầy qua sờ nắn nếu có chất lỏng trong túi hoạt dịch của cơ mông nhỡ hoặc nhỏ.

Bằng chứng gần đây xác nhận rằng chẩn đoán thường gặp này liên quan đến bệnh viêm gân tiềm ẩn của gân cơ đùi trong, hiếm khi liên quan đến nguyên nhân nhiễm trùng, cho thấy chẩn đoán trước đó về bệnh viêm bao hoạt dịch mấu chuyển lớn là không đúng.
Ý kiến đồng thuận của các bác sĩ chỉnh hình và các chuyên gia y học thể thao gần đây đã đề xuất rằng viêm bao hoạt dịch mấu chuyển lớn nên được gọi là hội chứng đau mấu chuyển lớn (GTPS).

Có ý kiến rằng, sự vượt trội đáng kể trong thời gian tác dụng ngắn của một mũi tiêm cortico- steroid so với tập luyện tại nhà và liệu pháp sóng xung kích, đó là giảm sau 1 tháng. Tình trạng này là một hội chứng đau hông do hoạt động quá mức ở người lớn, từ việc tham gia vào các hoạt động thể thao. Mối quan hệ giải phẫu giữa ba túi hoạt dịch, cơ đùi trong – cơ xoay ngoài, mấu chuyển lớn và dải chậu chày, có thể khiến khu vực này bị kích thích cơ sinh học. Các nghiên cứu hình ảnh cộng hưởng từ đã cho thấy có vẻ như có mối liên hệ với GTPS nhiều hơn so với bất kỳ tổn thương túi hoạt dịch nào khác. Những nghiên cứu này cho thấy sự phù nề của túi hoạt dịch mấu chuyển lớn là không phổ biến – từ đó gợi ý gọi tên tất cả các tình trạng đau quanh khớp hông ngoài là GTPS.

Hình 8.1 Viêm bao hoạt dịch mấu chuyển lớn
Hình 8.1 Viêm bao hoạt dịch mấu chuyển lớn

1.2 Kỹ thuật tiêm (xem Hình 8.1)

Bệnh nhân nằm trên giường/ghế với phần bị ảnh hưởng ở trên cùng và gấp hông. Tại điểm căng nhất trên mấu chuyển, đâm vuông góc kim 1 inch (2,5 cm) gắn với ống tiêm 10 ml cho đến khi chạm tới xương. Rút kim ra nhẹ nhàng và hút chất lỏng màu vàng trong suốt. Sau đó, để lại kim tiêm tại chỗ, thay đổi ống tiêm để tiêm 1 ml steroid vào túi hoạt dịch và đâm qua lớp sợi chắc của cân cơ mông.

Cẩn trọng rằng, túi hoạt dịch ở một số bệnh nhân có thể nằm ngoài tầm với của kim ngắn tiêu chuẩn. Tùy thuộc vào đặc điểm của cơ thể, có thể cần một loại “kim chọc cột sống” dài hơn. Nếu việc tiêm không mang lại kết quả giảm triệu chứng, ngay cả trong thời gian ngắn, hãy cân nhắc một mũi tiêm với hướng dẫn siêu âm để cho phép bơm steroid một cách dứt khoát.

2. Viêm bao hoạt dịch xương ngồi (bệnh gân cơ đùi sau)

Tình trạng này đặc trưng bởi cảm giác đau ở vùng mông trên ụ ngồi và nặng hơn khi ngồi, đặc biệt là trên bề mặt cứng. Vùng trong của phần xương cứng này được bao phủ bởi lớp xơ – mỡ có chứa túi hoạt dịch ụ ngồi của cơ mông lớn. Túi hoạt dịch này nằm trên ụ ngồi và dây thần kinh tọa. Bởi vì trải nghiệm đau khi ngồi, nó thường bị nhầm lẫn với đau thần kinh tọa, gây ra chẩn đoán phân biệt khó khăn. Qua thăm khám, nâng chân thẳng vẫn bình thường, nhưng có cảm giác căng nhẹ ở sâu trong mông khi sờ nắn, và có thể phát hiện sưng bập bềnh.

Ngồi lâu trên bề mặt cứng hoặc yên xe đạp có thể gây ra tình trạng này.

Kỹ thuật tiêm (xem hình 8.2)

Khi bệnh nhân nằm sấp hoặc nằm nghiêng với hông gập và phía bị ảnh hưởng nằm cao nhất, tiêm 1 ml steroid trộn với 1 ml capocaine 1% trong ống tiêm 2 ml vào điểm căng đau nhiều nhất. Cần sử dụng kim lớn hơn, 1,5 inch (3,8 cm) để đi tới túi hoạt dịch. Khi tiêm đúng cách, căng và đau sẽ giảm ngay lập tức, do tác dụng của thuốc gây tê cục bộ; điều này xác nhận rằng chẩn đoán đã thực sự đúng.

3. Chứng đùi dị cảm

Hội chứng chén ép này là do đè nén dây thần kinh chi phối da mặt ngoài của đùi khi nó đi qua vùng cân sâu khoảng 3,9 inch (10 cm) nằm bên dưới và phía trong cho đến đỉnh gai chậu trước trên. Dây thần kinh chi phối cảm giác da trước và ngoài của vùng giữa đùi. Dị cảm điển hình được cảm nhận ở mặt trước và bên đùi, thường sau khi đi bộ hoặc đứng kéo dài. Thường xảy ra ở những bệnh nhân thừa cân, tình trạng có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi tư thế. Thăm khám thường thấy một vùng tê ở phía trước của đùi và tê cho tới châm chích; chẩn đoán được xác nhận bằng cách sờ vào điểm căng nề khu trú, nơi dây thần kinh đi vào đùi.

Biểu hiện sớm của hội chứng này có thể bị nhầm lẫn với các giai đoạn ban đầu của nhiễm herpes zoster; tốt hơn hết là theo dõi khoảng 2 tuần trước khi tiêm.

Hình 8.2 Viêm bao hoạt dịch ụ ngồi
Hình 8.2 Viêm bao hoạt dịch ụ ngồi

3.1 Kỹ thuật tiêm (xem hình 8.3)

Xác định điểm căng ở vùng đùi trên khoảng 3,9 inch (10 cm) bên dưới và phía trong, cho đến gai chậu trước trên. Sử dụng ống tiêm 2 ml và kim 1 inch (2,5 cm) chứa 1 ml steroid trộn với 1 ml li- docaine 1%, cẩn thận tiêm dung dịch xung quanh điểm này.

Tư vấn về tư thế và giảm cân rất hữu ích trong việc ngăn ngừa tái phát tình trạng. Các trường hợp mãn tính đôi khi cần phải chuyển tuyến phẫu thuật để phân chia dây thần kinh bì ngoài. Có thể cần xem xét một mũi tiêm có hướng dẫn siêu âm cho tình trạng này nếu các triệu chứng không cải thiện sau khi tiêm không hướng dẫn.

4. Hội chứng ma sát dải chậu chày

4.1 Biểu hiện và chẩn đoán

Chấn thương này thường thấy ở những người chạy đường dài, người đi xe đạp và người trượt tuyết, và đôi khi, ở người chơi gôn và người đi bộ. Nam giới thường bị ảnh hưởng nhiều hơn. Đau xảy ra ở mặt ngoài của khớp gối phía trên so với đường khớp và thường tỏa ra mặt ngoài đùi. Có một điểm căng nề nhiều nhất trên lồi cầu ngoài xương đùi.

4.2 Giải phẫu chức năng

Dải chậu – chày là sự dày lên của cân cơ căng đùi ở mặt ngoài đùi. Nó là phần nông và kéo dài từ gai chậu trước trên đến củ Gerdy ở mặt trước ngoài ở phần trên xương chày. Sự gấp
– duỗi của khớp gối làm cho dải di chuyển theo kiểu trước và sau, do đó gây ma sát dải trên lồi cầu ngoài xương đùi. Đau có thể cấp tính; đó là một chỉ định để tiêm steroid. Nếu không, vật lý trị liệu dưới dạng massage sâu, nhiệt và chống viêm là hữu ích.

Hình 8.3 Đau đùi dị cảm
Hình 8.3 Đau đùi dị cảm
Hình 8.4 Hội chứng dải chậu chày
Hình 8.4 Hội chứng dải chậu chày

4.3 Kỹ thuật tiêm (xem Hình 8.4)

Tiêm 0,5-1 ml hexaceton- ide hoặc methylprednisolone ac- etate (Depo-Medrone®) trộn với 0,5-1 ml lidocaine 1%, sử dụng kim chuôi xanh 1 inch (2,5 cm) tại điểm căng nề tối đa, ở phía mặt ngoài của lồi cầu xương đùi, sau khi đánh dấu bằng ngón cái để xác định điểm tiêm. Đôi khi, một túi hoạt dịch nằm ở phía sau điềm tiêm, và nó cũng nên được tiêm.

5. Vật lý trị liệu: Các tình trạng hông và đùi

5.1 Viêm bao hoạt dịch mấu chuyển

Điều trị vật lý trị liệu cho GTPS nhằm mục đích giải quyết vấn đề về cơ dạng/ viêm gân xoay ngoài. Đối với các triệu chứng đau cấp tính, tiêm steroid cực kỳ hiệu quả. Các lựa chọn thay thế cho tiêm bao gồm tránh kích hoạt đau, đóng đai, chườm đá, giảm đau, NSAID, trị liệu mô mềm và châm cứu.

Tuy nhiên, để tránh tái phát, khả năng tải lực của gân cần phải được cải thiện để trở lại hoạt động đầy đủ mà không gây đau thêm. Một chương trình phục hồi chức năng chuyên nghiệp có thể được thực hiện bởi một nhà vật lý trị liệu và đặc biệt quan trọng trong các trường hợp tái phát hoặc mãn tính. Chương trình này có thể bao gồm các bài tập như đứng trên một chân, bước lên xuống từ cầu thang hoặc đi bộ,…, đó là những cách đơn giản để tập các cơ mông. Tất cả nên được thực hiện ở mức độ tránh gây khởi phát đau, vì số lượng bài tập tăng đều đặn trong vài tháng, cho đến khi bệnh nhân trở lại đầy đủ chức năng. Đè nén gân trên mấu chuyển cũng nên tránh (ví dụ: ngồi kéo dài hoặc ngồi với hai chân bắt chéo).

5.2 Viêm bao hoạt dịch xương ngồi

Viêm bao hoạt dịch xương ngồi tương đối hiếm gặp và như đã nêu, chẩn đoán phân biệt là một thách thức. Nguyên nhân của viêm túi hoạt dịch này sẽ giúp định hướng cho vật lý trị liệu và điều trị khác.

Viêm túi hoạt dịch cấp tính, gây ra bởi chấn thương từ một cú ngã trên mông, có thể được giảm nhẹ bằng liệu pháp lạnh, giảm đau và tránh hoạt động gây đau. Những biện pháp này cũng có thể hỗ trợ giảm các triệu chứng cấp tính do hoạt động lặp đi lặp lại, thường là tăng khoảng cách chạy, tốc độ hoặc khó khăn của địa hình. Sửa chữa cách chạy sai và giải quyết điểm yếu cùng tính linh hoạt kém của cơ mông và cơ đùi sau sẽ giúp giảm ma sát giữa túi hoạt dịch và cấu trúc bên dưới.

Bệnh nhân bị mất lớp “đệm” mông do giảm cân đáng kể hoặc sau phẫu thuật khớp háng phức tạp có thể bị viêm túi hoạt dịch do hậu quả trực tiếp khi ngồi. Lợi ích của việc tiêm có thể được tăng cường khi bệnh nhân ngồi trên đệm mềm với áp lực được đưa qua đùi chứ không phải là ụ ngồi. Co thắt mông thường xuyên và giảm áp lực định kỳ bằng cách đứng và đi bộ có thể giúp ngăn ngừa tái phát.

5.3 Đau dị cảm đùi

Vật lý trị liệu thường không cần thiết cho tình trạng này, do chỉ liên quan đến một dây thần kinh cảm giác hoàn toàn. Phòng ngừa bao gồm giảm cân, tránh ngồi với hông gấp quá 90 độ và tránh quần áo chật gây bó khu vực này.

5.4 Hội chứng ma sát dải chậu chày

Tương tự như tất cả các tình trạng vận sức quá mức, mục tiêu điều trị lâu dài là giải quyết nguyên nhân tiềm ẩn và ngăn ngừa tái phát. Đánh giá toàn diện chi dưới và xương chậu có thể cần thiết để xác định những vấn đề này.

Giày dép tập phù hợp, sức cơ bắp tốt và tính linh hoạt mô mềm sẽ tối ưu hóa cơ chế sinh học của chi dưới và giảm ma sát giữa dải chậu chày với lồi cầu xương đùi bên dưới. Giày chạy nên được thay thế thường xuyên để hỗ trợ và hấp thụ lực tốt. Các vận động viên với tư thế chân sai, bao gồm cả bàn chân được sấp hoặc ngửa, có thể được lợi từ các đánh giá chỉnh hình.

Các bài tập tăng cường cơ mông sẽ cải thiện vị trí của xương đùi trong giai đoạn tác động gót và tư thế của dáng đi hay chạy. Sự suy yếu của các cơ hông này gây ra sự gia tăng lực lên xương đùi và có liên quan đến đau gối, bao gồm hội chứng ma sát dải chậu chày.

Vận động mô mềm dải chậu chày và cơ mông bởi một nhà vật lý trị liệu hoặc trị liệu y học thể thao có thể được hỗ trợ bằng điều trị tại nhà qua việc sử dụng một con lăn.

Đánh giá hoạt động thể thao có thể làm nổi bật các vấn đề cụ thể. Ví dụ, người đi xe đạp có thể cần thay đổi vị trí của yên xe và bàn đạp để cải thiện chuyển động gấp/duỗi/xoay quanh đầu gối. Các phương pháp tương tự dành cho người chạy bộ bao gồm thay đổi tuyến đường chạy để giảm quãng đường xuống dốc và các bề mặt nghiêng.

6. Tài liệu tham khảo

1. Rompe JD et al (2009) Home training, local corticoste- roid injection, or radial shock wave therapy for greater trochan- ter pain syndrome. Am J Sports Med. 37 (10): 1981–1990.

Tr