Nhau bong non: Sinh lý bệnh, đặc điểm lâm sàng, chấn đoán,hậu quả

Bài viết Nhau bong non: Sinh lý bệnh, đặc điểm lâm sàng, chấn đoán,hậu quả được biên dịch bởi Bs Vũ Tài từ sách “Nhau bong non: Sinh lý bệnh, đặc điểm lâm sàng, chấn đoán, và hậu quả” của  tác giả Cande V Ananth, PhD, MPH, Wendy L Kinzler, MD, FACOG.

1. GIỚI THIỆU

Nhau bong non là tình trạng bánh nhau bong một phần hoặc toàn bộ trước khi thai sổ. Chẩn đoán thường dành cho các thai kỳ trên 20 tuần tuổi. Các dấu hiệu lâm sàng chính là chảy máu âm đạo và đau bụng, thường đi kèm với các cơn co tử cung tăng trương lực, đaư tử cung khi sờ nắn và các dạng nhịp tim thai không an toàn. Nhau bong non là nguyên nhân đáng kề gây bệnh tật và tử vong cho cả mẹ và trẻ sơ sinh, đặc biệt khi nó xảy ra ở thai kỳ thiếu tháng.
Chú đề này sẽ thảo luận về sinh lý bệnh, căn nguyên, đặc điếm lâm sàng, chấn đoán và hậu quả của nhau bong non. Quản lý bệnh nhân bị nhau bong non được xem xét ở chủ đề riêng. (See “Placental abruption: Management and long-term prognosis”.)

2.TỶ LỆ MẮC MỚI

Nhau bong non làm phức tạp khoảng 2 đến 10 trên 1000 ca sinh. Hoa Kỳ và Canada ở giới giạn trên của khoảng này, trong khi Hà Lan, Tây Ban Nha, Phần Lan, Thụy Điên, Đan Mạch và Na Uy ở giới hạn dưới của khoảng này. Tỷ lệ mắc mới dường như đang gia tăng ở Hoa Kỳ, Canada và một số nước Bắc Âu, có thề do gia tăng sự lưu hành các yếu tố nguy cơ của rối loạn và / hoặc thay đổi trong việc xác nhận ca bệnh.
Hai phần ba số ca nhau bong non được phân loại là nặng, dựa trên sự hiện diện của bệnh tật / tử vong mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh. (See ‘Severe abruption’ below.).
Trong một loạt ca bệnh lớn gồm hơn 500 ca nhau bong non với thai sống, 60,4% xảy ra khi đủ tháng, 25,3% xảy ra ở tuần thứ 32-36 và 14,3% xảy ra trước 32 tuần. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc mới theo tuổi thai thay đổi đáng kể phụ thuộc vào căn nguyên.

3.SINH LÝ BỆNH

Nguyên nhân gây nhau bong non ngay lập tức là vỡ các mạch ở màng rụng nền của mẹ. Hiếm khi, chảy máu có nguồn gốc từ các mạch máu của tử cung-thai. Máu tích tụ chia tách màng rụng, bong lớp màng rụng có nhau thai bám.
Mạch máu mẹ bị vỡ có thể là động mạch hoặc tĩnh mạch. Bánh nhau bong hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn là do chảy máu động mạch áp lực cao ở khu vực trung tâm của bánh nhau gây lóc tách diện rộng qua mặt phân cách nhau thai-màng rụng. Điều này dẫn đến sự xuất hiện nhanh chóng của các biểu hiện lâm sàng có thể đe dọa tính mạng (ví dụ: chảy máu nặng, đông máu rải rác trong lòng mạch ở mẹ (DIC), bất thường nhịp tim thai). Chảy máu tĩnh mạch áp lực thấp, thường ở ngoại vi của bánh nhau (nhau bong non ở mép), có xu hướng tự giới hạn và dẫn đến bong một vùng nhau nhỏ. Các biểu hiện lâm sàng xảy ra theo thời gian (ví dụ: chảy máu nhẹ ngắt quãng, thiểu ối, và thai chậm tăng trưởng liên quan đến sự tái phân bố lưu lượng máu não giảm chỉ số xung động mạch não giữa ).
Thrombin đóng một vai trò quan trọng trong các hậu quả lâm sàng của nhau bong non và cũng có thể quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của nó. Nó được hình thành thông qua hai con đường: ở một con đường, chảy máu màng rụng đến giải phóng yếu tố mô (thromboplastin) từ các tế bào màng rụng, tạo ra thrombin. Ở một con đường khác, tình trạng thiếu oxy mô màng rụng gây sản xuất các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, yếu tố này tác động trục tiếp lên các tế bào nội mô màng rụng gây ra biểu hiện bất thường của yếu tố mô, sau đó tạo ra thrombin. Việc sản xuất thrombin có thể dẫn đến các hậu quả lâm sàng sau:
• Các cơn co và tăng trương lực tử cung, vì thrombin là một tác nhân gây tăng trương lực tử cung mạnh, trực tiếp [ 12 ].
• Tăng cường biểu hiện metalloproteinase của chất nền, tăng số lượng các gen tham gia vào quá trình chết theo chương trình [ 11 ], và gây ra biểu hiện của các cytokine gây viêm (chủ yếu là interleukin-8), dần đến hoại tử mô và thoái hóa chất nền ngoại bào. Một vòng luẩn quẩn sau đó xảy ra, dẫn đến vỡ thêm nhiều mạch máu và thường dẫn đến khởi phát chuyển dạ và vỡ ối .
Ở những phụ nữ bị vỡ ối trước chuyển dạ, nguy cơ nhau bong non tăng lên khi thời gian tiềm tàng kéo dài, điều này gợi ý rằng tình trạng viêm sau khi vỡ màng ối có thể khởi phát nhau bong non chứ không phải là kết quả của một loạt các sự kiện dẫn đến bong nhau.
• Kích hoạt đông máu. Nếu một lượng lớn yếu tố mô (thromboplastin) được giải phóng, một lượng lớn thrombin sẽ được tạo ra và đi vào hệ tuần hoàn mẹ trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này vượt quá các cơ chế kiểm soát cầm máu, không cho phép đủ thời gian để phục hồi các cơ chế bù trừ. Hậu quả lâm sàng là tình trạng chảy máu dữ dội toàn thân và do lắng đọng fibrin lan tỏa trong lòng mạch, tổn thương mô do thiếu máu cục bộ và thiếu máu tan máu vi mạch (ví dụ, DIC).
• Không còn progesterone chức năng do giảm biểu hiện của các thụ thể progesterone ở các tế bào màng rụng, dẫn đến khởi phát hoặc góp phần vào các cơn co tử cung.

4.NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân gây chảy máu ở màng rụng nền vẫn còn mang tính suy đoán trong hầu hết các trường hợp, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng và dịch tề. Hầu hết các trường hợp nhau bong non dường như đều liên quan đến quá trình bệnh lý nhau thai mạn tính. Trong những trường hợp này, nhũng bất thường trong quá trình phát triển sớm các động mạch xoắn dẫn đến hoại tử màng rụng, viêm nhau thai và có thể nhồi máu, cuối cùng là vỡ mạch máu và chảy máu.
Một tỷ lệ nhỏ của tất cả trường hợp nhau bong non có liên quan đến các biến cố cơ học đột ngột (ví dụ như chấn thương bụng bàng vật tù) hoặc giải chèn ép tử cung nhanh (ví dụ sau khi sinh song thai đầu tiên). Sự căng giãn hoặc co đột ngột của thành tử cung bên dưới do các biến cố này gây rách nhau thai không đàn hồi [ 7,8 ]. Trong các vụ va chạm xe mô tô, một yếu tố bổ sung là quá trình tăng-giảm tốc nhanh của tử cung, gây ra sự căng giãn của tử cung mà không có sự căng giãn nhau thai đồng thời với, dẫn đến một lực cắt giữa nhau thai và thành tử cung. Chấn thương nặng ở mẹ có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nhau bong non gấp sáu lần, nhưng thậm chí ngay cả những chấn thương nhẹ cũng có thể dẫn đến nhau bong non.

Mô hình khái niệm cho thấy đông máu / huyết khối, nhiễm trùng, viêm, tân sinh mạch và các con đường chuyển hóa collagen dẫn đến bong nhau thai
Mô hình khái niệm cho thấy đông máu / huyết khối, nhiễm trùng, viêm, tân sinh mạch và các con đường chuyển hóa collagen dẫn đến bong nhau thai

5.YẾU TỐ NGUY CƠ

5.1.Lâm sàng

Nhau bong non trước đó là yếu tổ nguy cơ mạnh nhất, với nguy cơ tái phát cao hơn gấp 10 đến 15 lần [ 28 1 và cao hơn đến 93 lần (CI 95% 62-139) so với nhũng phụ nữ không bị nhau bong non trước đó, Các yếu tố nguy cơ chính khác được mô tả trong bảng (B table 1 ).

Các yếu tố nguy cơ chính cùa nhau bong non
Các yếu tố nguy cơ chính cùa nhau bong non

Sử dụng cocaine và hút thuốc là những yếu tố nguy cơ quan trọng nhưng ít phổ biến hơn đối với nhau bong non. Tác dụng sinh lý bệnh của cocaine trong việc gây ra nhau bong chưa được biết rõ, nhung có the liên quan đến sự co mạch do cocaine dẫn đến thiếu máu cục bộ, giãn mạch phản xạ và phá vỡ tính toàn vẹn của mạch máu. Có tới 10% phụ nữ sử dụng cocaine trong ba tháng cuối sẽ bị nhau bong non.
Hút thuốc là một trong sổ ít các yếu tổ nguy cơ có thể thay đổi được đổi với nhau bong non. Hút thuốc có liên quan đến tăng nguy cơ nhau bong non 2,5 lần, đú nghiêm trọng để dẫn đến tử vong thai nhi, và nguy cơ tăng 40% khi hút mỗi gói thuổc/ngày. (Các) cơ chế làm cơ sở cho mối quan hệ giữa hút thuốc và nhau bong non thì không rõ ràng. Một giả thuyết cho rằng tác dụng co mạch của việc hút thuốc lá gây giảm tưới máu nhau thai, có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ, hoại tử và xuất huyết màng rụng dẫn đến nhau bong non [ 35,36 ]. Trong một nghiên cứu, bổ sung vitamin C-E dường như làm giảm nguy cơ nhau bong non trong số những người hút thuốc [ 37], nhưng phát hiện này phải được phiên giải một cách thận trọng với sổ lượng biến cổ nhỏ và khoảng tin cậy rộng.
Phụ nừ tăng huyết áp có nguy cơ bị nhau bong non nặng tăng gấp 5 lần so với phụ nữ có huyết áp bình thường. Liệu pháp hạ huyết áp dường như không làm giảm nguy cơ này ở phụ nữ bị tăng huyết áp mạn tính I 38 ]. Sự kết hợp giừa hút thuốc lá và tăng huyết áp có tác dụng hiệp đồng đối với nguy cơ .
Dị tật tử cung (ví dụ, tử cung hai sừng), dính tử cung và u xơ tử cung là những yếu tố nguy cơ yếu đối với nhau bong non. Chúng đại diện cho các vị trí không ổn định về mặt cơ học và sinh học để nhau thai làm tổ; nhau bong non ở các vị trí này có thể là do quá trình màng rụng hóa không đầy đủ và / hoặc xé rách.
Các yếu tố nguy cơ yếu khác đối với nhau bong non bao gồm hen, chị/em gái từng bị nhau bong non [ 43 1, dị tật bẩm sinh lớn ở thai nhi (đặc biệt khi thai bị chậm tăng trưởng), mổ lấy thai trước đó [ 45 ], tổn thương thận cấp liên quan đến thai kỳ[ 46 ], và thụ thai nhờ công nghệ hỗ trợ sinh sản. Ngoài ra, những bà mẹ có vóc dáng thấp và những bà mẹ sinh ra thai nhỏ so với tuổi thai (SGA) dễ bị nhau bong non nặng hơn; nguy cơ còn tăng hơn nữa nếu anh chị em ruột của cô ấy cũng bị SGA (relative risk 2,4, CI 95% 1,7-3,3), ủng hộ một gia đình dễ mắc bệnh nhau thai thiếu máu cục bộ.
Không có đủ dữ liệu để hỗ trợ khuyến nghị hạn chế hoạt động thể chất nhằm mục đích giảm nguy cơ nhau bong non, mặc dù những phụ nữ có tiền sử nhau bong non thường tránh hoạt động gắng sức vì sợ tái phát. Một nghiên cứu bắt chéo-ca bệnh về những phụ nữ sinh ở bệnh viện Peru báo cáo nguy cơ nhau bong non tăng ở thời điểm sau khi gắng sức vừa hoặc nặng (odds ratio 7,8, CI 95% 5,5-11,0), đặc biệt ở nhừng người có lối sống tĩnh tại [ 50]. Gắng sức thể chất được đánh giá thông qua thang điểm Borg tương tự trực quan 15 điểm, với điểm số từ 6 đến 20. Phụ nữ được yêu cầu xác định mức độ gắng sức dựa trên cường độ của các đợt hoạt động thể chất được phân loại là nhẹ (ví dụ: lau nhà), trung bình (ví dụ: khiêu vũ), hoặc nặng (ví dụ: chạy nước rút). Mặc dù có mối liên quan chặt chẽ giữa gắng sức thể chất rất gần với thời điểm sinh và nhau bong non, nhiều yếu tố gây nhiễu trong nghiên cứu này vẫn chưa được biết (như độ cao, thói quen ăn uống và các hình thức gắng sức khác). Các nghiên cứu tiến cứu nên được thực hiện để xác nhận phát hiện này ở các quần thể khác và nếu được thực hiện, để xác định loại gắng sức nào có thể liên quan đến nhau bong non.

5.2.Cận lâm sàng

Sự bất thường của các dấu ấn sinh hóa huyết thanh mẹ được sử dụng để sàng lọc hội chứng Down hoặc khiếm khuyết ống thần kinh làm tăng nguy cơ nhau bong non sau đó lên đến 10 lần. Các dấu ấn này bao gồm tăng alpha fetoprotein hoặc hCG, giảm protein A huyết tương liên quan đến thai kỳ hoặc estriol không liên họp, và inhibin A < bách phân vị thứ 5 hoặc > bách phân vị thứ 95, không giải thích được bởi nhũng bất thường của thai nhi. Phụ nữ có nhiều dấu ấn sinh hóa bất thường có nguy cơ cao nhất.
Ở những phụ nữ đã thực hiện sàng lọc hội chứng Down bằng cell-free DNA ở tam cá nguyệt thứ nhất, tỷ lệ cell-free DNA của thai nhi thấp có liên quan đến tăng nguy cơ bệnh tật sản khoa chung gấp 2,5 lần, bao gồm cả nhau bong non, trong một nghiên cứu.
Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy các chất chuyển hóa sớm ttong huyết thanh mẹ, các microRNA đặc hiệu nhau thai và suy giáp cận lâm sàng như là các dấu ấn sinh học của nhau bong non trong tương lai.

6.ĐẶC ĐIỀM LÂM SÀNG

6.1.Nhau bong non cấp tính

Biểu hiện của bệnh nhân – Phụ nữ bị nhau bong non cấp tính thường có các triệu chứng kinh điển như chảy máu âm đạo khởi phát đột ngột , đau bụng và / hoặc lưng từ nhẹ đến trung bình và cơn co tử cung. Đau lưng chiếm iru thế khi bánh nhau nằm ở thành sau của tử cung. Tử cung thường cứng, có thể cứng và đau khi sờ nắn.
Các cơn co thường có tần số cao và biên độ thấp, nhưng có thể có dạng cơn co điển hình của chuyển dạ và chuyển dạ có thể diễn ra nhanh chóng.
Chảy máu âm đạo từ nhẹ và không đáng kể về mặt lâm sàng đến nặng và đe dọa tính mạng. Lượng máu mất có thể được đánh giá thấp vì máu có thể bị giữ lại sau bánh nhau và do đó khó khăn trong việc định lượng. Lượng máu chảy ra âm đạo tương quan kém với mức độ nhau bong và không được dùng như một dấu hiệu hữu ích về nguy cơ sắp xảy ra đối với thai nhi hoặc mẹ.
Ngược lại, đau bụng, hạ huyết áp và bất thường nhịp tim thai gợi ý nhau bong non đáng kể trên lâm sàng có thể dẫn đến tử vong thai nhi và bệnh tật nặng cho mẹ. Khi triệu chứng biểu hiện là đau bụng, tỷ lệ bị tiền sản giật, sinh non, xuất huyết ở mẹ và tổn thương ở trẻ sơ sinh tăng so với những phụ nữ có triệu chứng biểu hiện là chảy máu âm đạo, nhấn mạnh rằng mức độ chảy máu tương quan kém với kết cục.
Khi bánh nhau bong > 50%, đông máu rải rác trong lòng mạch cấp tính (DIC) và thai chết là phổ biến.
Trong 10 đến 20% trường hợp nhau bong non, bệnh nhân chỉ có chuyển dạ sinh non và không có hoặc chảy máu âm đạo rất ít. Trong những trường họp này, được gọi là “nhau bong non thể ẩn”, toàn bộ hoặc phần lớn máu bị giữ lại giừa các màng thai và màng rụng,
thay vì thoát ra ngoài qua cổ tử cung và âm đạo [ 64 Ị. Do đó, ở nhũng thai phụ bị đau bụng và có cơn co tử cung, dù chỉ ra một ít máu âm đạo, cần nhanh chóng đánh giá kỹ luỡng thai nhi và mẹ xem có bong nhau thai không. Trong các trường hợp khác, nhau bong non nhỏ thể ẩn có thể không có triệu chứng và chỉ được nhận biết là một phát hiện tình cờ trên siêu âm.
Đôi khi, các dấu hiệu và triệu chứng của nhau bong non xuất hiện sau khi giải chèn ép tử cung nhanh, như sau khi vỡ ối không kiểm soát trong trường hợp đa ối hoặc sau khi sinh song thai đầu tiên. Các dấu hiệu và triệu chúng của nhau bong non cũng có thể xảy ra sau khi mẹ bị chấn thương bụng hoặc va chạm xe mô tô. Trong những trường hợp này, nhau bong non thường xuất hiện trong vòng 24 giờ sau khi xảy ra biến cố khởi phát và có xu hướng nặng. Biểu hiện lâm sàng và đánh giá sản khoa các nạn nhân chấn thương đang mang thai được mô tả chi tiết ở chủ đề riêng. (See “Initial evaluation and management of pregnant women with major trauma”, section on ‘Initial evaluation and management of major trauma’.)
Các dấu hiệu cận lâm sàng – Nhau bong / chảy máu nhẹ có thể không liên quan đến bất kỳ bất thường nào của các xét nghiệm cầm máu thường dùng.
Nhau bong nặng có thể dẫn đến Die. DIC xảy ra ở 10 đến 20% các ca nhau bong nặng với thai chết lưu (See “Disseminated intravascular coagulation (PIC) in adults: Evaluation and management”, section on ‘Diagnostic evaluation’.)
Nồng độ fibrinogen có mối tương quan tốt nhất với mức độ chảy máu , sự hiện diện của DIC quá mức, và cần truyền nhiều sản phẩm từ máu [ 67 1. Nồng độ fibrinogen ban đầu < 200 mg/dL được báo cáo có giá trị tiên đoán dương là 100% đối với băng huyết sau sinh nặng, trong khi mức >400 mg/dL có giá trị dự đoán âm là 79%. Chẩn đoán DIC ở phụ nữ mang thai được xem xét riêng. (See “Disseminated intravascular coagulation during pregnancy”, section on ‘Criteria for diagnosis’.)
Xét nghiệm Kleihauer-Betke hoặc phân tích tế bào theo dòng chảy dương tính ở một tỷ lệ nhỏ các trường hợp bị nhau bong non. Có mối tương quan kém giữa kết quả của các xét nghiệm này và có hoặc không có nhau bong non; độ nhạy chỉ 4%.

6.2.Hình ảnh

• Siêu âm – Xác định máu tụ sau bánh nhau là dấu hiệu siêu âm kinh điển của nhau bong non ( image 1), Máu tụ sau bánh nhau có hình dạng thay đổi; chúng có thể xuất hiện đồng nhất, hỗn họp và giảm âm, tăng âm hoặc đồng âm so với nhau thai. Giảm âm và trổng âm là các đặc điểm của tình trạng thoái triển chứ không phải là máu tụ cấp tính .

Hình ảnh siêu âm máu tụ sau bánh nhau
Hình ảnh siêu âm máu tụ sau bánh nhau

Độ nhạy của các dấu hiệu trên siêu âm để chẩn đoán nhau bong non chỉ từ 25 đến 60%, nhưng giá trị tiên đoán dưong tính cao (88%) khi các dấu hiệu siêu âm gợi ỷ nhau bong non ở bệnh nhân có triệu chứng. Tìm kiếm kỳ lường các dấu hiệu khác ở bệnh nhân có triệu chứng có thế cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm. Những dấu hiệu này bao gồm tụ dịch dưới màng đệm (thậm chí ở xa vị trí bám của bánh nhau), các mảnh vụn phản âm trong nước ổi, hoặc nhau thai dày lên, đặc biệt nếu nó lập lờ khi mẹ cử động (dấu hiệu “Jello”).

Tổ chức máu tụ trong từ cung
Tổ chức máu tụ trong từ cung

Các phát hiện trên siêu âm phù họp với nhau bong non có liên quan đến kết cục mẹ và chu sinh tồi nhất. Tuy nhiên, việc xác định có tụ máu hay không còn phụ thuộc vào mức độ chảy máu, tính chất mạn tính của tình trạng chảy máu và mức độ máu thoát ra ngoài qua cổ tử cung (image 3A-B and image 4A-B). Mặc dù kết cục tồi nhất dường như xảy ra khi có bằng chứng máu tụ sau bánh nhau trên hình ảnh siêu âm , nhưng khi không có tụ máu sau bánh nhau cũng không loại trừ khả năng xảy ra nhau bong non nặng vì máu có thể không tụ lại phía sau bánh nhau.

Cháy máu sau màng 1
Cháy máu sau màng 1
Chảy máu sau màng 2
Chảy máu sau màng 2

• Chụp cộng hưởng từ – Chụp cộng hưởng từ có thề phát hiện nhau bong non bị bỏ sót khi khám siêu âm, nhưng gia tăng tính chắc chắn trong chấn đoán không có khả năng thay đối việc quản lý hoặc hiệu quả về mặt chi phí.
• Chụp cắt lóp vi tính (CT) – Mặc dù CT có tiêm thuốc cản quang hiếm khi được sử dụng như một xét nghiệm hình ảnh đầu tiên trong thai kỳ, nó có thể được thực hiện sau chấn thương của mẹ để loại trừ tổn thương bên trong. Trong trường họp này, nó có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp đề xác định nhau bong non. CT cũng có thể ước tính mức độ (< 25% , 25 đến 50% , > 50% ) nhau bong.
Hậu quả – Đổi với mẹ, hậu quả tiềm tàng của nhau bong non chủ yếu liên quan đến mức độ nhau bong, trong khi các nguy cơ đổi với thai nhi liên quan đến cả mức độ nhau bong và tuổi thai khi mà cuộc sinh nở xảy ra. Với nhau bong non nhẹ, có thể không bị ảnh hưởng bất lợi đáng kể. Khi mức độ nhau bong tăng lên, nguy cơ đối với mẹ và chu sinh cũng tăng theo . Trong một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, tần suất các biến chứng mẹ nghiêm trọng ở những phụ nữ không bị nhau bong non, nhau bong non nhẹ và nhau bong non nặng lần lượt là 15, 33 và 142 trên 10.000 phụ nữ .
• Hậu quả đối vói mẹ – Hậu quả nghiêm trọng đối với mẹ do nhau bong non bao gồm:
• Mất máu quá mức và DIC, thường cần truyền máu và có thể dẫn đến sốc giảm thể tích, suy thận, hội chúng suy hô hấp ở người lớn, suy đa cơ quan, cắt tủ’ cung chu sản và hiếm khi, tử vong.
• Mổ lấy thai cấp cứu vì chỉ định của thai nhi hoặc mẹ.
Ngoài nhũng hậu quả cấp tính này, người mẹ gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch sớm lâu dài và tăng gấp đôi nguy cơ tử vong sau tái thông động mạch vành. Những nguy cơ gia tăng này có thể phản ánh nhũng bất thường mạch máu nền của mẹ biểu hiện trong quá trình mang thai như nhau bong non. Tăng tỷ lệ tử vong chung và ở độ tuổi sớm hơn so với phụ nữ không bị nhau bong non cũng đã được ghi nhận.
• Hậu quả đối vói thai nhi / trẻ sơ sinh – Hậu quả nghiêm trọng đối với thai nhi và trẻ sơ sinh do nhau bong non bao gồm:
• Tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong chu sinh liên quan đến giảm oxy máu, ngạt, cân nặng khi sinh thấp và / hoặc sinh non.
• Thai chậm tăng trưởng (với nhau bong non mạn tính). (See ‘Chronic abruption’ below.)
Trong các nghiên cứu quần thể, tỷ lệ tử vong chu sinh dao động từ 3 đến 12% (so với 0,6% ở các trường hợp sinh không bị nhau bong non). Hơn 50% trường họp tử vong chu sinh liên quan đến nhau bong non là thai chết do ngạt trong tử cung, thường xảy ra khi bánh nhau bong > 45%, đặc biệt là nhau bong ở trung tâm . Tử vong ở giai đoạn sau sinh chủ yếu liên quan đến sinh non.
Nhau bong non có liên quan đến 10% số ca sinh non. Sinh non có thể là do tình trạng của thai nhi hoặc mẹ không đảm bảo, hoặc có thể liên quan đến chuyển dạ sinh non hoặc vỡ ối non thiếu tháng. Đáng chú ý, tỷ lệ tử vong chu sinh liên quan đến nhau bong non dường như đang giảm.
Thai nhi bị ngạt, sinh non và chậm tăng trưởng có thể liên quan đến các di chứng ngắn hạn và dài hạn, và nhau bong non dường như làm tăng nguy cơ. Một nghiên cứu trên 29 trẻ sơ sinh với thai kỳ phức tạp do nhau bong non ở trung bình 29 tuần tuổi đã báo cáo gia tăng gấp 10 lần bệnh hoại tử trắng quanh não thất so với trẻ sơ sinh phù họp với thai kỳ không bị nhau bong non; tỷ lệ hoại tử trắng quanh não thất là 34% . Sự khiếm khuyết phát triển thần kinh lâu dài trong số nhũng trẻ sinh ra sau khi bị nhau bong non dường như chủ yếu là do sinh non. (See “Short-term complications of the preterm infant” and “Perinatal asphyxia in term and late preterm infants” and “Infants with fetal (intrauterine) growth restriction” and “Long-term outcome of the preterm infant”.)
Bệnh lý nhau thai – Nhau bong non được xem là một chẩn đoán lâm sàng: Chỉ một nửa số ca bong nhau cấp tính, được phát hiện sẽ được xác nhận về mô học. Các phát hiện phổ biến nhất là lõm vào bề mặt bánh nhau của mẹ và xuất huyết trong nhung mao.
Trong những trường hợp ít cấp tính hơn, có thể thấy tổ chức máu tụ lõm vào nhu mô. Có thể có các ổ nhồi máu gần đây và được đặc trưng bởi sự bảo tồn cấu trúc đệm nhung mao, sự thoái hóa lá nuôi hợp bào tăng bạch cầu ái toan, và sự kết dính nhung mao với các bạch cầu trung tính rải rác gian nhung mao. Những ổ nhồi máu này cần khoảng bốn đến sáu giờ để phát triển. Tuy nhiên, dường như không có sự tiến triển rõ ràng tìmg bước của các tổn thương mô học cho phép xác định thời điểm chính xác của tình trạng nhau bong.
Các phát hiện mô học, như xuất huyết trong màng rụng và / hoặc sau màng lan tỏa, tế bào sắc tố, huyết khối gian nhung mao nền không đều và xuất huyết mô đệm nhung mao gần đây, không đặc hiệu để chẩn đoán. Bằng chứng mô học của xuất huyết màng rụng được ghi nhận ở 2-4% các ca sinh; hầu hết các trường hợp có liên quan đến vỡ ối non thiếu tháng hoặc chuyển dạ và sinh non hơn là chẩn đoán nhau bong non trên lâm sàng.
Trong một loạt ca bệnh lớn, kiểm tra đại thể bánh nhau khi sinh cho thấy tần suất bánh nhau bong ước tính như sau: bánh nhau