Piracetam

0
92
Tài liệu nghiên cứu piracetam
Hình ảnh: Tài liệu nghiên cứu piracetam

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thuốc gerneric có hoạt chất là Piracetam tuy nhiên lại rất ít thông tin liên quan đến hoạt chất này. Ở bài này HealCentral.org xin được chia sẻ các thông tin như: Cơ chế tác dụng của Piracetam là gì? Piracetam có tác dụng gì? Tác dụng phụ của Piracetam là gì?… Dưới đây là thông tin chi tiết.

Lịch sử nghiên cứu và phát triển

Đầu những năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu để phát triển 1 chất dẫn truyền thần kinh dạng GABA, có thể vượt qua hàng rào máu não và có khả năng hỗ trợ giấc ngủ.

Họ đã thành công trong việc phát triển một phân tử có khả năng xâm nhập vào não, nhưng lại thất bại trong hỗ trợ giấc ngủ. Tuy nhiên, những gì được phát hiện là 1 phân tử mà sau này sẽ chứng minh các tác dụng sâu sắc hơn nhiều.

Corneliu Giurgea (1923-1995), nhà khoa học chính tại phòng thí nghiệm, cùng nhóm của ông đã làm việc rất chăm chỉ để khám phá những ẩn số về piracetam. Sau 9 năm nghiên cứu, Giurgea đã xác định rằng phân tử này (piracetam) có cơ chế hoạt động độc đáo với các hoạt động tích hợp cấp độ cao của não, và để phân loại nó, chúng ta cần 1 phân loại hoàn toàn mới. Ông được coi là cha đẻ của “nootropic”, các chất hưng trí giúp cải thiện chức năng nhận thức của não bộ.

Trong hơn 30 test dược lý, người ta thấy piracetam không có hoạt động gì cả, không phải thuốc an thần cũng không phải chất kích thích. Nó cũng không có độc tính và ít tác dụng phụ, ngay cả khi được dùng ở liều rất cao và sử dụng lâu dài.

Vì những tính chất đó, piracetam dường như không có tác dụng gì cả. Nếu nó không được thử nghiệm với chứng rung giật nhãn cầu, nơi các nhà khoa học thấy nó hoạt động ngay lập tức, thì piracetam rất có thể đã bị bỏ qua. Phát hiện này đặc biệt hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì tất cả các tác nhân được biết có hoạt động chống rung giật nhãn cầu đều là thuốc kháng histamine hoặc thuốc kháng cholinergic.

Các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu xem piracetam thuộc phân loại nào. Nhưng cuối cùng, không một phân loại nào thể hiện được các tính chất của phân tử “bất thường” này.

Các thử nghiệm đầu tiên ở người bắt đầu năm 1965 và cho thấy piracetam có khả năng ức chế đáng kể chứng rung giật nhãn cầu. Vì có độc tính cực kỳ thấp và dường như rất ít tác dụng phụ, piracetam bắt đầu được thử nghiệm ở các quần thể khác. Dữ liệu tiếp theo được báo cáo nội bộ khẳng định piracetam có “hiệu quả khá tốt chống lại chứng say tàu xe và chóng mặt” ở người. Những phát hiện này khiến họ tìm kiếm 1 “bức tranh toàn diện hơn về piracetam từ quan điểm sinh lý thần kinh”.

Khi họ đang thực hiện những nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 1966-1967, một loạt kết quả đáng ngạc nhiên đã được báo cáo. Đầu tiên, kết quả đến từ 1 nghiên cứu được thực hiện tại 1 bệnh viện ở Phần Lan trên bệnh nhân sau chấn thương. Các nhà khoa học điều hành nghiên cứu đã viết cho Giurgea để cho ông biết rằng “trí nhớ bệnh nhân dường như được cải thiện bằng cách nào đó, rằng họ tuyên bố “nghĩ” tốt hơn”.

Sau đó xuất hiện 1 thử nghiệm ở Brussele về trẻ bị động kinh dùng piracetam. Cha mẹ của những đứa trẻ trong nghiên cứu “khẳng định sự cải thiện về hiệu quả tinh thần tổng thể”. Và sau đó, 1 nhà nghiên cứu khác đã báo cáo với ông rằng các bệnh nhân Parkinson của anh ta nhờ piracetam “bằng cách nào đó nhận thức rõ hơn về căn bệnh của họ”.

Vì trước đây Giurgea và đội của ông đã chứng minh piracetam tăng cường chọn lọc giao tiếp giữa các bán cầu não (hình dưới), ông cho rằng hợp chất này có thể tạo điều kiện cho các chức năng tâm thần tích hợp vỏ não khác, nhưng vào thời điểm đó, ông không biết phạm vi của nó.

Hiệu quả của piracetam trên đáp ứng thể chai. Liều piracetam 100 mg/kg tĩnh mạch. Chú ý sự gia tăng biên độ của điện thế gợi thể chai sau khi dùng piracetam tại các khoảng thời gian. Hầu như không có sự thay đổi hình thái của dạng sóng. 2 giờ sau tiêm tĩnh mạch nó vẫn không trở về biên độ đối chứng (hình trên cùng).
Hình ảnh:Hiệu quả của piracetam trên đáp ứng thể chai. Liều piracetam 100 mg/kg tĩnh mạch. Chú ý sự gia tăng biên độ của điện thế gợi thể chai sau khi dùng piracetam tại các khoảng thời gian. Hầu như không có sự thay đổi hình thái của dạng sóng. 2 giờ sau tiêm tĩnh mạch nó vẫn không trở về biên độ đối chứng.

Thông tin mới này đã thay đổi tiến trình công việc lâm sàng và họ bắt đầu tập trung vào “các nghiên cứu liên quan đến lợi ích tiềm năng của piracetam trên hoạt động tâm thần”.

Trên các đối tượng bình thường, piracetam dường như “kích hoạt hiệu quả chức năng thần kinh lên mức cao hơn” và trong trường hợp chấn thương, piracetam dường như “bảo vệ và / hoặc tạo điều kiện cho phục hồi hoạt động bình thường của não”.

Từ những quan sát này và các quan sát khác, Giurgea phỏng đoán rằng piracetam và các phân tử tiềm năng khác giống nó “dường như hoạt động chọn lọc trên các cơ chế tích hợp cao hơn của não”.

Chuột đã học được cách thoát khỏi mê cung nước nhanh hơn nhiều khi dùng piracetam
Hình ảnh: Chuột đã học được cách thoát khỏi mê cung nước nhanh hơn nhiều khi dùng piracetam
Bộ nhớ được bảo vệ khỏi sự thiếu oxy nếu những con chuột được dùng piracetam trước.
Hình ảnh: Bộ nhớ được bảo vệ khỏi sự thiếu oxy nếu những con chuột được dùng piracetam trước.
Sau khi não của chuột bị sốc điện 24 giờ, những con chuột được dùng piracetam trước đã nhớ 100%, trong khi những con chuột dùng giả dược nhớ ít hơn 20% thời gian.
Hình ảnh:Sau khi não của chuột bị sốc điện 24 giờ, những con chuột được dùng piracetam trước đã nhớ 100%, trong khi những con chuột dùng giả dược nhớ ít hơn 20% thời gian.
Piracetam ức chế rung giật nhãn cầu ở cả liều cao và thấp và tăng cường ngưỡng kích thích.
Hình ảnh:Piracetam ức chế rung giật nhãn cầu ở cả liều cao và thấp và tăng cường ngưỡng kích thích.

Năm 1972, Giugea đã đề xuất 1 phân loại hoàn toàn mới, được gọi là “nootropic”, nghĩa là “hướng tới tâm trí”.

Phân loại nootropic
Hình ảnh: Phân loại nootropic

Năm 1975, 1 nghiên cứu trên các sinh viên đại học khỏe mạnh cho thấy các sinh viên dùng piracetam thì khả năng ngôn từ của họ tăng 15%. Các nhà khoa học gọi đây là “siêu kết nối của não bộ”.

Nối tiếp nghiên cứu “siêu kết nối”, các nhà nghiên cứu đã thiết lập một nghiên cứu mù đôi, đối chứng giả dược khác trên sinh viên đại học khỏe mạnh. Thay vì học bằng lời nói, họ quyết định kiểm tra bằng các từ được viết. Kết quả tích cực khiến các nhà nghiên cứu kết luận rằng “piracetam thúc đẩy việc học bằng lời nói, nó dường như có khả năng mở rộng các chức năng trí tuệ của con người”.

Trí nhớ con người được tăng cường khi sử dụng piracetam
Hình ảnh: Trí nhớ con người được tăng cường khi sử dụng piracetam

Nghiên cứu này đã chứng minh rằng “sức mạnh não bộ con người có thể tăng một cách chọn lọc”.

Khi đã biết piracetam làm hệ thần kinh trung ương hoạt động hiệu quả hơn, các nhà nghiên cứu đã quyết định thực hiện 1 thí nghiệm trên chuột già. Họ cho chuột dùng choline, piracetam, đơn độc cũng như kết hợp cả hai.

Cả choline và piracetam đơn độc dường như có tác dụng tích cực, mặc dù hạn chế. Tuy nhiên, khi kết hợp piracetam và choline, kết quả trở nên rất tích cực.

Kết hợp Choline và Piracetam
Hình ảnh: Kết hợp Choline và Piracetam

Sau piracetam, các nhà khoa hoặc bắt đầu phát triển các nootropic mới hơn với hoạt tính mạnh hơn.

Vào những năm 1980, các phòng thí nghiệm bắt đầu tổng hợp các phiên bản mới hơn, mạnh hơn piracetam. Hầu hết họ đều giữ cấu trúc cốt lõi của piracetam (phân tử proline) và thực hiện các biến đổi khác.

Trong số đó, noopept và phenylpiracetam, mặc dù rất khác nhau, là 2 phiên bản hứa hẹn nhất có thể đáp ứng tầm nhìn của Giurgea về 1 loại thuốc nootropic thế hệ tiếp theo. Cả hai đều được phát triển đầy đủ thông qua các thử nghiệm lâm sàng thành công và sử dụng ở người.

Noopept là 1 phiên bản peptide của piracetam mạnh hơn đáng kể và có thể hấp thu tốt qua đường uống, và tình cờ nó còn có đặc tính giải lo âu.

Phenylpiracetam được thiết kế để giữ lại hoạt tính nâng cao nhận thức của piracetam, đồng thời tăng cường độ bền và tốc độ xử lí.

 Piracetam tổng hợp thànhnoopept và phenylpiracetam
Hình ảnh: Piracetam tổng hợp thànhnoopept và phenylpiracetam

Dược lực học

Cơ chế tác dụng của piracetam nói riêng và các racetam khác nói chung chưa được hiểu biết đầy đủ.

Piracetam ảnh hưởng đến chức năng thần kinh, mạch máu và nhận thức mà không có tác dụng an thần hoặc kích thích. Nó đã được chứng minh là làm tăng lưu lượng máu và tiêu thụ oxy trong các bộ phận của não, nhưng đây có thể cỉ là tác dụng phụ của tăng hoạt động não chứ không phải là tác dụng chính hoặc cơ chế tác dụng của piracetam.

Piracetam có thể cải thiện chức năng của acetylcholine thông qua các thụ thể muscarinic cholinergic và có thể ảnh hưởng đến các thụ thể NMDA glutamate, chúng có liên quan đến quá trình học tập và ghi nhớ. Tuy nhiên thuốc không thể hiện ái lực cao với bất kỳ thụ thể nào (Ki > 10μM). Piracetam làm tăng mật độ các thụ thể sau synap và / hoặc khôi phục chức năng các thụ thể này thông qua ổn định tính linh của động màng. Piracatam còn bảo vệ các tế bào thần kinh khi thiếu oxy, nhiễm độc hay khi dùng liệu pháp sốc điện.

Piracetam có thể phát huy tác dụng của nó thông qua điều chế các kênh ion (Na+, K+). Nó đã được chứng minh làm tăng tiêu thụ oxy não và làm tăng hoạt động adenylate kinase trong não chuột. Piracetam dường như làm tăng tổng hợp cytochrom b5, 1 phần cơ chế vận chuyển electron trong ti thể. Nó cũng làm tăng tính thấm một số chất trung gian chu trình Krebs thông qua màng ngoài ti thể. Piracetam đã được chứng minh làm giảm mức độ mất tế bào thần kinh khi điều trị cai rượu ở chuột. Sử dụng piracetam trước khi kích thích co giật làm giảm mức độ co giật và tăng cường hiệu quả chống co giật của các thuốc chống co giật thông thường.

Piracetam đã được chứng minh là làm tăng khả năng biến dạng hồng cầu, giảm kết tập tiểu cầu phụ thuộc liều, giảm kết dính hồng cầu với nội mô mạch máu và co thắt mao mạch (Nồng độ trong huyết tương của fibrinogen và yếu tố von Willebrand giảm 30-40%).

Một số thử nghiệm lâm sàng

Thử nghiệm đối chứng về piracetam trên những bệnh nhân suy giảm trí tuệ mắc bệnh Parkinson.

Các tác giả: Sano M, Stern Y, Marder K và Mayeux R.

20 bệnh nhân mắc bệnh Parkinson và bị suy giảm trí tuệ hoặc mất trí nhớ đã tham gia vào một thử nghiệm mù đôi, đối chứng giả dược về 1 nootropic là piracetam. Một bài kiểm tra thần kinh tiêu chuẩn, bộ kiểm tra tâm lý học thần kinh và thang đo chức năng, hồ sơ ảnh hưởng của bệnh đã được hoàn thành cho tất cả bệnh nhân. Sau đó, bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên “mù” thuốc hoặc giả dược (3.2 g piracetam hoặc một lượng giả dược giống hệt) trong 12 tuần. Liều được tăng lên 4.8 g trong 12 tuần nữa. Các thước đo thần kinh, tâm lí và chức năng được đánh giá là cải thiện, không thay đổi hoặc tệ hơn so với hiệu suất đường cơ sở.

25 bệnh nhân đã không hoàn thành thử nghiệm vì những lí do không liên quan đến thuốc. Mặc dù đã có 1 sự cải thiện đáng kể trên 1 bài test phụ của thang đo chức năng, nhưng không có tác dụng đáng kể nào được chứng minh trong các thang đo nhận thức hoặc thần kinh.

Dược động học

Hấp thu: Piracetam hấp thu tốt qua đường tiêu hóa. Sinh khả dụng (F) đường uống xấp xỉ 100%. Thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (Tmax) xấp xỉ 1 giờ. Sau 1 liều đơn piracetam 3.2g, nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) là 84 µg/mL. Nồng độ trong huyết tương đạt được trạng thái ổn định trong 3 ngày dùng thuốc. Dùng cùng thức ăn làm giảm Cmax 17% và tăng Tmax từ 1 đến 1.5 giờ.

Phân bố: Thể tích phân bố xấp xỉ 0.6 L/kg. Piracetam có thể qua được hàng rào máu não. Piracetam đến được tất cả các mô trừ mô mỡ, qua được hàng rào nhau thai và qua được màng các tế bào hồng cầu cô lập.

Chuyển hóa: Không rõ chuyển hóa chính của piracetam.

Thải trừ: Thời gian bán thải (t1/2) trong huyết tương khoảng 5 giờ và trong dịch não tủy khoảng 8.5 giờ. Bài xuất qua nước tiểu 80-100% (90% dưới dạng không đổi). Độ thanh thải toàn cơ thể là 80-90 mL/phút.

Chỉ định và liều dùng

Khuyến nghị sử dụng cho bệnh Alzheimers, sa sút trí tuệ, rối loạn trí nhớ, chứng nghiện rượu, hội chứng Raynaud, huyết khối tĩnh mạch sâu, đột quỵ, loạn vận động muộn, chứng khó đọc, tổn thương não, chóng mặt, rung giật nhãn cầu.

Liều khuyến nghị: Uống 1.6-9.6 g/ngày.

Tác dụng phụ

Rối loạn thần kinh trung ương: Ngủ gà, mất ngủ, lo lắng, trầm cảm, chứng tăng động.

Rối loạn tiêu hóa: Tiêu chảy.

Phản ứng dị ứng: Phát ban.

Tăng cân.

Lưu ý và thận trọng

Tránh dừng sử dụng đột ngột.

Thận trọng với người cao tuổi.

Thận trọng với bệnh nhân suy thận.

Rối loạn tạo máu.

Thận trọng với người phải lái xe, vận hành máy móc, làm việc trên cao.

Phụ nữ có thai: Không dùng cho phụ nữ có thai. Chống chỉ định.

Phụ nữ đang cho con bú: Không dùng cho phụ nữ đang cho con bú. Chống chỉ định.

Tương tác thuốc

Dùng cùng các thuốc chống co giật (carbamazepine, benzodiazepine): Tăng cường tác dụng chống co giật.

Rất ít tương tác thuốc của piracetam có ý nghĩa dược lí.

Chống chỉ định

Quá mẫn cảm với piracetam hoặc bất cư thánh phần nào của thuốc.

Bệnh nhân suy gan, suy thận nặng.

Phụ nữ mang thai và đang cho con bú.

Xuất huyết tạng.

Tài liệu tham khảo:

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16007238

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20166767

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3881046/

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây