Bệnh trầm cảm là gì? Nguyên nhân, Triệu chứng, Cách chữa bệnh trầm cảm

Trầm cảm - Căn bệnh phổ biến hiện nay ở mọi lứa tuổi
Trầm cảm - Căn bệnh phổ biến hiện nay ở mọi lứa tuổi

Cảm xúc là dấu hiệu của một cuộc sống. Một con người bình thường vẫn hay được miêu tả với các cảm xúc hỉ nộ ái ố khác nhau. Đối diện với một sự việc, một hoàn cảnh, mỗi người sẽ có những cảm xúc khác nhau, những suy nghĩ khác nhau từ đó đưa ra những hành động khác nhau. Trước một sự việc đáng tiếc, có người buồn một ngày, có người buồn 1 tháng, nhưng cũng có người phải mất đến hàng năm hoặc đôi khi là cả đời ám ảnh. Đó là những cảm xúc thông thường của con người, tuy nhiên, Trầm cảm không phải một dạng cảm xúc. Trầm cảm là một căn bệnh.

Một trong những bi kịch của thời hiện đại là sự gia tăng không ngừng của các rối loạn trầm cảm. Trầm cảm – một căn bệnh không quá mới, cũng không quá cũ. Căn bệnh không phân biệt tuổi tác, giới tính, chủng tộc, hay tình trạng kinh tế xã hội. Tất cả mọi người đều có thể bị trầm cảm. Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất, chiếm 6% dân số. Trầm cảm có thể gặp ở bất kì lứa tuổi và nhóm nghề nghiệp nào, tuy nhiên bệnh hay gặp ở lứa tuổi 40 – 50. Trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát (75% các trường hợp tự sát là do trầm cảm), hay xảy ra nhất ở trầm cảm mức độ nặng, có hoang tưởng (cho rằng mình có nhiều tội lỗi, không đáng sống).

Tổ chức Y tế Thế giới WHO dự đoán rằng đến năm 2020, bệnh trầm cảm sẽ được xếp thứ hai trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chỉ sau những bệnh tim mạch. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2017), trầm cảm là căn bệnh phổ biến trên thế giới với hơn 300 triệu người bị ảnh hưởng, gần 800.000 người tự sát mỗi năm có liên quan đến trầm cảm. Vậy trong nội dung bài viết này, các bạn hãy cùng tìm Heal Central hiểu trầm cảm thật sự là gì?

Bệnh trầm cảm là gì?

Trầm cảm (Depression) là một rối loạn khí sắc, được định nghĩa như tâm trạng buồn và đau khổ kèm theo sự suy giảm hoạt động tâm trí và vận động. Không nên nhầm lẫn trầm cảm với nỗi buồn thoáng qua trong ngôn ngữ thông thường, một trạng thái mà mọi người trong chúng ta đều trải qua trong cuộc sống. Đó là nỗi buồn thoáng qua trong vài giờ, thậm chí vài ngày, nhưng rồi sẽ trôi qua và hầu như không kéo theo sự thay đổi hành vi đáng kể nào. Còn trầm cảm là trạng thái tuyệt vọng trầm trọng lâu dài.

Theo từ điển Tâm lí học của Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kì, trầm cảm là trạng thái cảm xúc tiêu cực, từ bất hạnh, bất mãn đến cảm nhận buồn bã tột độ, bi quan, và tuyệt vọng, những điều này gây cản trở đến cuộc sống hằng ngày. Những thay đổi về thể chất, tâm lí, xã hội khác nhau cũng đồng thời xuất hiện, bao gồm thay đổi thói quen ăn hoặc ngủ, thiếu năng lượng hoặc động lực, khó để tập trung hoặc đưa ra quyết định và rút lui khỏi các hoạt động xã hội. Đó là triệu chứng của một số rối loạn sức khỏe tâm thần.

Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản và suy nghĩ tiêu cực
Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản và suy nghĩ tiêu cực

Còn theo tác giả David Cohen (2009), trầm cảm là một rối loạn tâm thần mà người bệnh trải qua một nỗi buồn khôn xiết và không thể nào thuyên giảm được, đồng thời cảm thấy không còn hứng thú đối với hầu hết các hoạt động trong cuộc sống.

Trong từ điển Tâm lí học của Arthur và Emily, trầm cảm là một trạng thái tâm lí đặc trưng bởi cảm giác mất thăng bằng, chán nản, và có sự suy giảm trong khả năng hoạt động và khả năng phản ứng, cộng thêm sự bi quan, buồn rầu và những triệu chứng có liên quan.

Định nghĩa trầm cảm theo Saisan và Smith (2009) là một chứng bệnh tâm lí nhấn chìm cuộc sống hằng ngày của người bệnh, ảnh hưởng đến khả năng làm việc, học tập, đến việc ăn uống, ngủ nghỉ và vui chơi giải trí của người bệnh.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng có viết trong cuốn Phật giáo và Sức khỏe tâm lí (2019) rằng: “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thuộc nhóm rối loạn khí sắc, đặc trưng bởi cảm xúc âm tính, trầm buồn, buồn rầu, chán nản và mệt mỏi, thu mình, cảm giác cô đơn, mặc cảm tội lỗi, giảm/mất hứng thú và có thể có ý nghĩ và hành vi tự gây hại”.

Tựu trung lại, trầm cảm là một rối loạn tinh thần phổ biến đặc trưng bởi cảm giác buồn bã, tuyệt vọng, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày (khả năng làm việc, học tập) của người gặp trầm cảm. Bất kì lứa tuổi nào, giới tính nào, tầng lớp xã hội nào đều có thể gặp trầm cảm.

Một số yếu tố dẫn đến trầm cảm

Theo mô hình tâm sinh xã hội (psychobiological), các quá trình dẫn đến trầm cảm xảy ra do tác động của cả các yếu tố tâm lí – xã hội lẫn yếu tố sinh học, di truyền. Do vậy, việc chú trọng cho từng yếu tố trước khi một giai đoạn trầm cảm diễn ra là cần thiết.

Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền: Gen di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của bệnh trầm cảm, nhưng vai trò di truyền của gen tuân theo một cơ chế rất phức tạp. McGuffin và cs. (1996) đã tìm ra rằng tỉ lệ cùng mắc trầm cảm ở các cặp sinh đôi cùng trứng là khá cao (46%), trong khi đó, với các cặp sinh đôi khác trứng, tỉ lệ này là khoảng 20%. Tương tự, Wender và cs. (1986) đã tiến hành một nghiên cứu trên hai nhóm khách thể: Một nhóm là họ hàng của những người con nuôi đã trưởng thành và từng bị trầm cảm, thứ hai là nhóm con nuôi. So sánh tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm cho thấy nhóm khách thể thứ nhất tỉ lệ bị trầm cảm nhiều gấp 8 lần và đã từng có ý định tự sát nhiều gấp 15 lần so với họ hàng ruột của chính những người con nuôi này. Tuy nhiên, gen di truyền không phải là yếu tố tiên quyết gây ra bệnh trầm cảm.

Cơ chế sinh học: Sự tiến bộ về khoa học trong những năm qua đã giúp con người hiểu rõ hơn về cơ chế sinh hóa của căn bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, tất cả đều mới chỉ là giả thuyết do trong các thử nghiệm, ta mới chỉ ghi nhận được những thay đổi sinh hóa liên quan đến điện hóa, một số chất dẫn truyền xung thần kinh hoặc sự thiếu hụt của các thụ thể dẫn truyền thần kinh.

Bất cứ một phân đoạn nào của quá trình dẫn truyền thần kinh qua synap bị ảnh hướng cũng có thể dẫn đến tình tràng trầm cảm. (https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3181668/)

Bước đầu tiên của quá trình là tổng hợp và vận chuyển các axit amin từ máu vào não. Tại đây, dưới tác dụng của các enzyme tiền chất được chuyển thành các chất dẫn truyền, được lưu trữ trong các túi synap, và cuối cùng được giải phóng vào khe synap bởi một quá trình phụ thuộc vào Ca2+. Quá trình này sẽ bị dừng lại khi các dẫn truyền được tái hấp thu trở lại sợ tiền synap, nơi chúng được chuyển hóa bởi các enzyme, ví dụ, monoamin oxydase (MAO), hoặc được lưu trữ lại trong các túi. Các chất dẫn truyền thần kinh không qua màng sau synap, nhưng tạo ra một loạt các phản ứng bằng việc liên kết với các thụ thể bề mặt ở màng sau synap, thường được ghép với các protein liên kết với nucleotide guanine (G-protein).

  • Giả thuyết đơn chất: Giả thuyết chính đầu tiên về trầm cảm được hình thành khoảng 50 năm trước rằng các triệu chứng chính của trầm cảm là do sự thiếu hụt chức năng của các chất dẫn truyền thần kinh monoaminergic như: Norepinephrine (NE), 5-HT, và / hoặc Dopamine (DA). Bằng chứng cho giả thuyết này xuất phát từ các quan sát lâm sàng và thí nghiệm trên động vật, cho thấy thuốc reserpine chống tăng huyết áp, gây ra sự suy giảm của các cửa hàng NE, 5-HT và DA trước khi sinh, gây ra một hội chứng giống như trầm cảm. Trái ngược với tác dụng thu được với reserpine, hưng phấn và hành vi hiếu động đã được quan sát thấy ở một số bệnh nhân đang điều trị bằng iproniazid, một hợp chất được tổng hợp để điều trị bệnh lao, làm tăng nồng độ não của NE và 5-HT bằng cách ức chế enzyme chuyển hóa MAO. Cùng với các kết quả đó, người ta cũng đã chứng minh được các vùng hoạt động của các monoaminergic có liên quan đến cảm xúc. Ví dụ như Vùng Rìa vỏ não – nhân vòng và Vùng rìa trung gian của Dopamine.
  • Sự thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh: Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để chứng minh giả thuyết giảm khả năng sử dụng monoamine. Tuy nhiên kết quả không nhất quán. Tương tự như hệ noradrenergic, dữ liệu về việc xác định 5-HT và chất chuyển hóa 5-hydroxyindoleacetic acid (5-HIAA) không thể chứng minh giả thuyết về việc giảm truyền serotonergic đơn độc. Nhiều nghiên cứu báo cáo giảm nồng độ serotonergic trung ương trong trầm cảm nặng; nhưng các phát hiện cũng cho thấy rằng chức năng 5-HT giảm có thể không xuất hiện ở tất cả các bệnh nhân trầm cảm.
  • Rối loạn trong các protein vận chuyển: Các protein vận chuyển đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền monoaminergic: Chúng làm giảm sự sẵn có của các chất dẫn truyền thần kinh trong khe synap từ đó chấm dứt tác dụng của các chất dẫn truyền thần kinh trên các thụ thể trước và sau synap.
  • Các thụ thể dẫn truyền thần kinh: Ngoài sự thiếu hụt monoamin, sự bất thường trong truyền dẫn cũng có thể phát sinh từ những thay đổi trong chức năng của thụ thể, có nghĩa là thay đổi trong việc ghép nối giữa các máy phát và các thụ thể hoặc thay đổi trong tầng tải tín hiệu xuôi dòng. Đối với cả hệ noradrenergic và serotonergic, tính đa bội của các thụ thể đã được xác định cho đến nay, mỗi loại được phân loại theo đặc điểm dược lý hoặc phân tử của nó.

Yếu tố văn hóa – xã hội

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh trầm cảm
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh trầm cảm

Yếu tố văn hóa – xã hội: Phong cách và lối sống cạnh tranh hiện nay gây ra tình trạng căng thẳng mạn tính kéo dài ngày này qua ngày khác. Nghiên cứu của Jenkins và các cộng sự năm 1998 đã chỉ ra những người dân nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn có tỷ lệ trầm cảm khá cao. Nghiên cứu của Brown và Harris (1978) trên những người phụ nữ thuộc tầng lớp lao động cho thấy những người phụ nữ có con, thiếu bạn thân, không có nghề nghiệp và mồ côi cha từ nhỏ có khả năng bị trầm cảm cao hơn nhóm người phụ nữ có hoàn cảnh ngược lại. Tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao hơn so với nam giới có thể được giải thích do: Phụ nữ hiện nay thường phải gánh một lượng công việc nhiều hơn như công việc xã hội, gia đình, không có thời gian chia sẻ, cũng như thời gian chăm sóc bản thân do đó nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cũng cao hơn (Bird và Rieker, 1999). Ngoài ra, do hướng suy nghĩ của phụ nữ quan tâm đến hậu quả và nhìn nhận vấn đề một các quá chi tiết khiến họ càng dễ có các cảm xúc tiêu cực hơn.

Phân loại bệnh trầm cảm

Theo DSM-5 (2013), các rối loạn của trầm cảm được phân loại thành 5 thể bao gồm trầm cảm do có bệnh thực thể tổn thương (thường do các bệnh mạn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm loét dạ dày tá tràng, …), trầm cảm do chất hóa học (liên quan đến rượu, ma túy, corticoid, các chất kích thích hoặc gây nghiện), loạn khí sắc (khí sắc giảm với một số triệu chứng của trầm cảm nhẹ kéo dài) và trầm cảm chủ yếu.

các loại trầm cảm khác nhau theo từng độ tuổi của người bệnh
các loại trầm cảm khác nhau theo từng độ tuổi của người bệnh

Ngoài ra, DSM – 5 còn bổ sung dạng trầm cảm điều chỉnh theo cảm xúc áp dụng cho trẻ em dưới 12 tuổi. Các triệu chứng kéo dài ít nhất 12 tháng trở lên: Nổi nóng, dễ kích động, tăng động giảm tĩnh kém tập trung và một số triệu chứng khác của bệnh trầm cảm. Thể bệnh này mạn tính và phát triển nếu không điều trị tích cực.

Trầm cảm có nhiều loại khác nhau, có thể phân chia trầm cảm theo lứa tuổi gồm có: trầm cảm vắng mẹ ở trẻ sơ sinh (1), trầm cảm vị thành niên (2), trầm cảm sau sinh (3), trầm cảm tuổi già (4). Còn phân loại theo triệu chứng đặc hiệu có: trầm cảm không chủ yếu (1) và dạng phổ biến nhất là trầm cảm chủ yếu (3). Mỗi dạng của trầm cảm lại có những triệu chứng khác nhau, ngoài ra những yếu tố thúc đẩy dẫn đến trầm cảm cũng vô cùng đa dạng. Dưới đây là đặc điểm của một số rối loạn trầm cảm phổ biến nhất.

Rối loạn trầm cảm không điển hình

Đầu tiên là rối loạn trầm cảm không điển hình bao gồm các dạng:

Rối loạn trầm cảm thực vật: Các hoạt động liên quan đến các chức năng của hệ thần kinh thực vật như tuyến tiết, co bóp của một số tạng: vã mồ hôi không kiểm soát, tăng hoạt động của tim, tăng nhịp đến loạn nhịp, tăng co bóp, kích thích dạ dày ruột gây nôn mửa, khô miệng, táo bón, mắt nhìn mờ.

Rối loạn trầm cảm mất cảm giác tâm thần: Nhân cách và tri giác bất thường, khác xa với thực tại. dạng này thường chỉ có giải thể nhân cách đơn đọc, không kết hợp với các triệu chứng khác.

Rối loạn trầm cảm nghi bệnh: Dạng này rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Bệnh nhân thường xuyên cảm thấy mệt mỏi nặng nề vì luôn nghĩ mình đang có bệnh khác.

Rối loạn trầm cảm ám ảnh: Bệnh nhân luôn có các nỗi sợ ám ảnh, các ám ảnh có thể thuyên giảm khi bệnh nhân rơi vào tình trạng trầm cảm nặng hoặc tăng lên. Khi các rối loạn trầm cảm hết, các nỗi ám ảnh có thể mất đi.

Các rối loạn trầm cảm không điển hình khác: Các thể bệnh này thường liên quan đến những bất ổn và khó khăn trong cuộc sống, các tai nạn, các biến cố, các căn bệnh mà bệnh nhân từng trải qua và các bệnh có nguồn gốc căn nguyên từ tâm lý. Thể bệnh này có diễn biến chậm, thường là kéo dài vài năm. Bệnh hay gặp ở những người trung niên trên 40 tuổi. Bệnh nhân hoàn toàn có ý thức về bệnh tật, không có ý định tự tử, không có sự giải thể về nhân cách và tri giác sai thực tại. Bệnh nhân thường có các suy nghĩ tiêu cực, về số phận hẩm hiu, cảm giác thấp hèn. Người bệnh cáu gắt, khó khăn trong chịu đựng lời chê bài và ít khi chịu nhượng bộ. Đôi khi, bệnh nhân có các triệu chứng của bất thường thần kinh thực vật.

Một dạng điển hình nhất của trầm cảm không điển hình đó là trầm cảm ẩn. Các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế che lấp các triệu chứng rối loạn trầm cảm cụ thể là các triệu chứng về mặt cảm xúc ít hoặc không được biểu lộ thay vào đó là những triệu chứng “đau”. Những triệu chứng của trầm cảm ẩn thường chỉ là đau đầu, cổ, vai, đôi khi là khó tiêu hóa và một trạng thái mỏi mệt không giảm kể cả khi nghỉ ngơi. Những dấu hiệu thực thể như đau đầu, đau cổ… cũng có biểu hiện khác nhau tại các thời điểm trong ngày. Cảm giác đau mạnh nhất là khi ngủ dậy. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi đến mức dường như không thể bắt đầu một ngày làm việc mới. Đến xế chiều thì những cơn đau dịu đi. Đối với bệnh trầm cảm thông thường, dấu hiệu điển hình là sự xuất hiện đột ngột hay từ từ của trạng thái chán chường tột độ với công việc hằng ngày, không cảm thấy có niềm vui nào, rất khó tập trung tư tưởng, lờ đờ, chậm chạp trong suy nghĩ và hành vi… Đây là thể bệnh gặp nhiều khó khăn trong chẩn đoán do khi trao đổi với bác sĩ, bệnh nhân sẽ không nói về các rối loạn chức năng mà bệnh nhân đang gặp phải. Các xét nghiệm sinh hóa cũng không thể giúp chẩn đoán thể bệnh này. Ở trẻ em, thể bệnh này cũng có thể gặp phải và thường được biểu hiện qua các cơn đau bụng kéo dài không rõ nguyên nhân.

Rối loạn trầm cảm điển hình ( chủ yếu)
Rối loạn trầm cảm điển hình ( chủ yếu)

Rối loạn trầm cảm điển hình

Thứ hai là rối loạn trầm cảm điển hình hay còn gọi là trầm cảm chủ yếu. Theo ICD – 10F (1992), 2 tuần là thời gian tối thiểu các triệu chứng diễn ra, trong đó người bệnh có khí sắc giảm hoặc / và mất hứng thú với hầu hết các hoạt động. Ở trẻ em và trẻ vị thành niên thường xảy ra triệu chứng kích thích thay vì trầm uất. Điều kiện đủ để chẩn đoán bệnh là có ít nhất 4 trong dãy triệu chứng sau:

  • Thay đổi cảm giác ngon miệng hoặc cân nặng thay đổi thất thường.
  • Rối loạn giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ li bì)
  • Thay đổi hoạt động tâm thần vận động
  • Giảm sút năng lượng, uể oải, mệt mỏi
  • Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi, khó suy nghĩ, tập trung hoặc khó đưa ra quyết định
  • Thường xuyên hoặc hay suy nghĩ lặp lại về cái chết. Thậm chí suy nghĩ về kế hoạch tự sát.

Muốn chẩn đoán chính xác giai đoạn của bệnh, cần theo dõi đầy đủ biểu hiện triệu chứng trong tất cả các hoạt động thường ngày, trong công việc và các mối quan hệ xã hội. Việc so sánh với giai đoạn trước của người bệnh cũng là điều cần thiết để đưa ra chẩn đoán chính xác hơn. Ở các bệnh nhân đang ở giai đoạn nhẹ, việc chẩn đoán là rất khó khăn do người bệnh hầu như không có bất cứ bất thường đáng chú ý nào. Cụ thể các triệu chứng được diễn ra như sau:

Khí sắc trầm buồn: Triệu chứng được miêu tả như một khuôn mặt vô cảm, không biểu hiện, mặt u uất, các nếp nhăn giảm hoặc không có nếp nhăn. Do bệnh nhân mất hy vọng, mất động lực và lý do để cố gắng, tình trạng này trở nên khá bền vững. Trạng thái kích thích và thất thường thường xuất hiện ở trẻ em nhiều hơn.

Mất hứng thú hoặc sự yêu thích cho hầu hết các hoạt động: Đây là một trong 2 biểu hiện đặc hiệu nhất của bệnh. Triệu chứng này được miêu tả ở bệnh nhân rằng “Tôi không còn sở thích nào cả”. Người bệnh trở nên thờ ơ với tất cả các hoạt động hay các thú vui trước đây, có thể mất luôn cả ham muốn tình dực. Tuy nhiên, triệu chứng cũng được cho là xảy ra trên những người chỉ có 1 hoặc 2 sở thích và mọi hoạt động đều xoay quanh sở thích đó. Ví dụ điển hình nhất của trường hợp này là tình trạng nghiện game, bệnh nhân chỉ tập trung vào việc chơi game và không quan tâm tới bất kì hoạt động nào khác.

Rối loạn giấc ngủ: Đây không phải là triệu chứng đặc hiệu của trầm cảm nhưng nó xuất hiện trong hầu hết các bệnh nhân trầm cảm. 95% trong số đó mất ngủ (ngủ dưới 2 tiếng mỗi ngày), một số thậm chí mất ngủ toàn bộ – tức là bệnh nhân không hề ngủ. 5% còn lại gặp hiện tượng tăng ngủ (ngủ trên 10 tiếng mỗi ngày), ngủ li bì, luôn trong trạng thái buồn ngủ.

Mất cảm giác ngon miệng, rối loạn cân nặng: Cũng giống như rối loạn trong giấc ngủ, rối loạn trong vấn đề ăn uống gặp ở gần như toàn bộ các bệnh nhân trầm cảm. Đa số bị mất cảm giác ngon miệng, không tìm được hứng thú với việc ăn uống, luôn cảm thấy như mình bị ép ăn. Do vậy họ thường ăn rất ít, thậm chí có trường hợp không ăn gì. Cân nặng vì thế mà cũng giảm sút. Một phần nhỏ cảm thấy ngon miệng và ăn tăng (khoảng 5%). Những trường hợp này khá nhanh chóng trở thành béo phì.

Cảm giác mệt mỏi, khó tập chung, tội lỗi và muốn chết ở người trầm cảm
Cảm giác mệt mỏi, khó tập chung, tội lỗi và muốn chết ở người trầm cảm

Rối loạn hoạt động tâm thần vận động: Triệu chứng này thường hay xuất hiện ở những bệnh nhân trầm cảm cao tuổi. Họ có thể ở trạng thái kích động, đi lại không ngừng, không thể ngồi yên, hoạt động không có mục đích, đôi khi khó khăn trong việc thực hiện một số động tác nhỏ phức tạp. Bệnh nhân cũng có thể ở trạng thái “dừng”: Ngồi yên cả ngày, nói ít, câu từ nghèo nàn, không nói, thậm chí câm, cử chỉ chậm chạp.

Giảm sút năng lượng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thường có biểu hiện mệt mỏi vào buổi sáng và đỡ dần về chiều. Triệu chứng này gặp ở rất nhiều bệnh khác và kể cả trong sinh lý thông thường. Do vậy, triệu chứng này thường được bỏ qua. Nếu bệnh tiến triển nặng hơn, sự giảm sút năng lượng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Đến khi bệnh nặng, bệnh nhân thậm chí không có năng lượng để làm những sinh hoạt thông thường. Đi vệ sinh đôi khi cũng có thể làm hao tốn phần lớn sức lực của họ.

Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi: Đây là cảm xúc rất hay gặp ở bệnh nhân trầm cảm giai đoạn chủ yếu. Bệnh nhân có suy nghĩ vô cùng bi quan và tự ti về bản thân. Họ dễ dàng dằn vặt bởi một lỗi nhỏ, luôn cho mình vô dụng không làm được điều gì, là gánh nặng của những người xung quanh. Những suy nghĩ này có thể tồn tại và ám ảnh bệnh nhân một thời gian khá dài.

Giảm khả năng suy nghĩ, khó tập trung hoặc khó đưa ra quyết định: Đây là những hiện tượng có thể khá phổ biến trong đời thường, tuy nhiên với những bệnh nhân trầm cảm, những triệu chứng này được khuếch đại lên và được biểu hiện ở mức độ cao hơn. Ví dụ như khả năng tập trung của bệnh nhân trở nên rất kém: Họ không thể đọc hết một mẩu tin ngắn hoặc không thể xem hết một chương trình mà trước đây có thể là mỗi quan tâm của họ. Với những quyết định đời thường như sáng nay ăn mì hay cơm, mua rau hay mua thịt cũng trở thành những trở ngại với những bệnh nhân trầm cảm.

Ý nghĩ muốn chết hoặc có hành vi tự sát: Đây là một chuỗi phản ánh các giai đoạn trong suy nghĩ của người trầm cảm. Ban đầu, khi họ có những thay đổi về sinh lý như chán ăn mất ngủ, sức khỏe giảm sút, bệnh nhân sẽ có suy nghĩ “Cứ như thế này thì chết mất!”. Bệnh nhân cố gắng để thoát khỏi tình trạng này nhưng không thành công, cùng với những bi quan tiêu cực trong suy nghĩ sẽ khiến họ trở nên ngày càng mệt mỏi hơn. Dần dần, họ nghĩ rằng “Cái chết có thể giúp ta thoát khỏi sự đau khổ này”. Nếu tiếp tục tiến triển bệnh, những suy nghĩ này có thể dẫn đến hành vi tự sát.

Việc so sánh với những biểu hiện của người bệnh trong thời gian trước đây là rất quan trọng để tránh chẩn đoán nhầm. Ví dụ như, trước đây, bệnh nhân ngủ khoảng 8 tiếng 1 ngày, nhưng 2 tuần liên tiếp gần đây, bệnh nhân rất khó ngủ và ngủ được rất ít (dưới 2 tiếng), khi ngủ hay khi tỉnh dậy đều thấy rất mệt mỏi. Như vậy sẽ được ghi nhận là rối loạn giấc ngủ.

Nếu bệnh nhân có các triệu chứng hỗn hợp của các giai đoạn, việc chẩn đoán để chỉ ra giai đoạn chủ yếu là không cần thiết. Bệnh nhân có cả hưng cảm và trầm cảm trong cùng một thời gian, xuất hiện liên tiếp trong nhiều ngày (kéo dài hơn 1 tuần). Người bệnh có thể hưng phấn trong làm việc vận động, đứng ngồi không yên, cảm xúc dễ bị kích thích nhưng lại cảm thấy chán ăn, mệt mỏi. Hoặc hay gặp hơn là trường hợp các giai đoạn trạng thái luân phiên. Điển hình là buổi sáng bệnh nhân trong trạng thái hưng phấn nhưng về chiều chuyển sang trạng thái trầm cảm, đôi khi sự thay đổi là nhanh và đột ngột hơn.

TRầm cảnh ảnh hưởng rất rõ rệt đến các hoạn động xã hội, nghề nghiệp của bệnh nhân
TRầm cảnh ảnh hưởng rất rõ rệt đến các hoạn động xã hội, nghề nghiệp của bệnh nhân

Giai đoạn trầm cảm ảnh hưởng rõ ràng đến các hoạt động trong xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác. Một số bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ, chức năng còn tương đối bình thường, nhưng cần một sự cố gắng đáng kể (họ vẫn đi học và đi làm, nhưng phải cố gắng rất nhiều và kết quả công việc cũng không được như trước kia). Tuy nhiên, ở những bệnh nhân nặng, họ có thể cảm thấy rất nặng nề, không thể thực hiện những hành động sinh lý thông thường tối thiểu (như mặc quần áo, ăn uống, thậm chí là đi vệ sinh). Các hoạt động trí óc như tập trung, suy nghĩ cũng có thể bị ảnh hưởng. Đôi khi, những triệu chứng này cũng là nguyên nhân gây nặng thêm tình trạng của bệnh.

Khi thăm khám, bác sĩ nên lưu ý đến những tiền sử bệnh và tiền sử thăm khám khác của bệnh nhân. Do ban đầu, phần lớn bệnh nhân sẽ thăm khám ở các chuyên khoa khác để điều trị các triệu chứng ban đầu như mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ. Chỉ khi triệu chứng trầm cảm rầm rộ, bệnh nhân mới nghĩ đến khám ở chuyên khoa tâm thần.

Nhìn chung, đánh giá thể bệnh trầm cảm giai đoạn chủ yếu là rất khó, đặc biệt trên bệnh nhân có các thể bệnh mắc kèm vì hầu hết các triệu chứng đều không phải triệu chứng đặc hiệu. Ví dụ như, bệnh nhân trầm cảm có đái tháo đường sẽ có triệu chứng như gầy, mệt mỏi.

Trầm cảm vị thành niên

Trước đây người ta cho rằng hiếm gặp trầm cảm ở người vị thành niên. Tuy nhiên, những năm gần đây, tỉ lệ trầm cảm ở nhóm người này tăng lên nhanh chóng. Một số tác giả đưa ra con số 6 -8%. Ngoài những triệu chứng chung thường gặp ở người trưởng thành, trầm cảm ở vị thành niên có những đặc điểm riêng:

  • Khí sắc thường là kích thích (chứ không phải là trầm cảm).
  • Mất cảm giác ngon miệng và sút cân hay gặp hơn.
  • Mất ngủ thường xuyên hơn.
  • Dễ bị kích thích.
  • Mệt mỏi thường xuyên.
  • Khó tập trung chú ý.
  • Trí nhớ kém.
  • Kết quả h