Tổng quan về quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh

Bài viết Tổng quan về quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh được biên dịch bởi Bs. Vũ Tài từ sách “Tổng quan về quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh” của tác giả Tiffany M McKee-Garrett, MD.

1. GIỚI THIỆU

Sau sinh, hầu hết trẻ sơ sinh đủ tháng (tuổi thai [GA] > 39 tuần) và trẻ sơ sinh đủ tháng sớm (GA 37 0/7 đến 38 6/7 tuần) cần được chăm sóc sơ sinh bình thường thường quy để chuyển tiếp thành công sang cuộc sống bên ngoài tử cung. Tùy theo chính sách của bệnh viện, trẻ sơ sinh sinh non muộn (GA 34 0/7 đến 36 6/7 tuần) > 35 tuần và trông khỏe mạnh có thể chỉ cần chăm sóc thường quy và có thể được tiếp nhận và chăm sóc ở phòng sơ sinh (mức độ chăm sóc sơ sinh cấp 1).
Quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh (GA > 35 tuần) sẽ được xem xét ở đây.
Đánh giá trẻ sơ sinh được thảo luận chi tiết hơn ở các chủ đề khác.(See “Assessment of the newborn infant”.)

Hình ảnh trẻ sơ sinh
Hình ảnh trẻ sơ sinh

2. TỔNG QUAN

Các thành phần chính chăm sóc thường quy trẻ sơ sinh :

  • Chăm sóc trong phòng sinh và giai đoạn chuyển tiếp, bao gồm cả việc gắn kết tình cảm mẹ con sớm
  • Đánh giá trẻ sơ sinh bao gồm xem xét tiền sử mẹ và khám thực thể toàn diện
  • Chăm sóc dự phòng để ngăn ngừa các rối loạn nghiêm trọng
  • Sàng lọc toàn bộ trẻ sơ sinh (see “Newborn screening”)
  • Giáo dục gia đình
  • Đánh giá khi xuất viện

3. CHĂM SÓC TRONG PHÒNG SINH

3.1.Xử trí ban đầu

Sau khi sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh ngay bao gồm lau khô, làm sạch chất tiết đường thở và ủ ấm trẻ sơ sinh. (See “Neonatal resuscitation in the delivery room”, section on ‘Initial steps’.)
Đối với trẻ sơ sinh có nhiều khả năng cần hồi sức, bác sĩ lâm sàng có chuyên môn về hồi sức sơ sinh nên có mặt trong phòng sinh để chăm sóc trẻ có nguy cơ cao. Việc xác định trẻ sơ sinh có nguy cơ cao và chăm sóc chúng được thảo luận ở chủ đề riêng. (See “Neonatal resuscitation in the delivery room”, section on ‘High-risk delivery’.)

3.2.Đánh giá và sắp xếp

Đánh giá tại phòng sinh về tình trạng lâm sàng của trẻ sơ sinh được thực hiện nhanh chóng bằng cách giải quyết các câu hỏi sau [ 1 ]. Các câu trả lời được sử dụng để xác định xem liệu trẻ có được tiếp nhận vào phòng sơ sinh bình thường hay không (mức độ chăm sóc sơ sinh cấp 1) hoặc yêu cầu cấp độ chăm sóc cao hơn (mức độ chăm sóc sơ sinh cấp 2, 3 hoặc 4) [ 2 ].
• Tuổi thai của trẻ sơ sinh có >35 tuần hay không?
• Trẻ sơ sinh có trương lực cơ tốt hay không?
• Trẻ sơ sinh thở hay khóc?
Nếu có là câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này, trẻ sơ sinh không cần can thiệp thêm và nên được trao cho người mẹ. Trẻ sơ sinh trông khỏe mạnh nên ở với mẹ và được đặt tiếp xúc da kề da (STS) để thúc đẩy sự gắn kết mẹ-con và bắt đầu cho con bú sớm [ 3 ]. Nhân viên y tế cần hướng dẫn và hỗ trợ mẹ về tư thế an toàn đối với trẻ sơ sinh trong khi tiếp xúc da kề da và cho con bú, đồng thời quan sát trực tiếp lần bú mẹ đầu tiên. Những trẻ này có thể được tiếp nhận vào phòng sơ sinh (mức độ chăm sóc sơ sinh cấp 1). (See “Initiation of breastfeeding”, section on ‘Delivery room’.)
Nếu câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào là không, khi đó trẻ sơ sinh cần được đánh giá và can thiệp thêm [ 1 ]. Các can thiệp sau có thể được yêu cầu và thảo luận chi tiết hơn ở chủ đề riêng (see “Neonatal resuscitation in the delivery room”):
• Thở oxy
• Thông khí áp lực dương
• Ép ngực
• Dùng các thuốc hồi sức (ví dụ: epinephrine )
• Chuyển lên cấp độ chăm sóc cao hơn (mức độ chăm sóc sơ sinh cấp 2, 3 hoặc 4)

3.3.Điểm Apgar

Điểm Apgar ở một và năm phút tuổi là một phương pháp được chấp nhận, sử dụng phổ biến để đánh giá tình trạng trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh. Mặc dù dữ liệu từ một nghiên cứu dựa trên quần thể báo cáo rằng điểm Apgar thấp hơn 7, 8 và 9 so với 10 có liên quan đến tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở trẻ sơ sinh cao hơn [ 4 ], điểm Apgar không nên được sử dụng để dự đoán kết cục sơ sinh của từng cá nhân bởi nó không phải là một công cụ tiên lượng chính xác [ 5 ].
Các dấu hiệu sau đây được cho các giá trị 0, 1 hoặc 2 và được cộng lại để tính điểm Apgar. Điểm số có thể được xác định bằng cách sử dụng bảng tính điểm Apgar ( bảng tính 1 ).
• Nhịp tim
• Hô hấp
• Trương lực cơ
• Kích thích phản xạ
• Màu da
Khoảng 90% trẻ sơ sinh có điểm Apgar từ 7 đến 10 và nhìn chung không cần can thiệp thêm. Những trẻ sơ sinh này thường có tất cả các đặc điểm sau và có thể được tiếp nhận vào phòng sơ sinh cấp 1 để chăm sóc thường quy:
• Tuổi thai (GA) >35 tuần
• Thở tự nhiên hoặc khóc
• Trương lực cơ tốt
• Hồng hào
Trẻ sơ sinh có điểm số thấp hơn cần được đánh giá thêm và có thể phải can thiệp, bao gồm 1% tổng số trẻ sơ sinh cần các biện pháp hồi sức tích cực khi sinh. Chăm sóc những trẻ sơ sinh này được thảo luận chi tiết hơn ở chủ đề riêng. (See “Neonatal resuscitation in the delivery room”.)

3.4.Giai đoạn chuyển tiếp

Giai đoạn chuyển tiếp giữa cuộc sống trong tử cung và ngoài tử cung là khoảng thời gian từ bốn đến sáu giờ đầu tiên sau khi sinh. Những thay đổi sinh lý có thể xảy ra trong giai đoạn chuyển tiếp bao gồm giảm sức cản mạch máu phổi (PVR) với tăng lưu lượng máu đến phổi, phổi giãn nở cùng với làm sạch dịch phế nang và cải thiện sự oxy hóa, và đóng ống động mạch. (See “Physiologic transition from intrauterine to extrauterine life”.)
Trong khoảng thời gian này, tình trạng lâm sàng của trẻ sơ sinh nên được đánh giá sau mỗi 30 đến 60 phút để đảm bảo các đánh giá và/hoặc can thiệp thêm ngoài việc chăm sóc thường quy không còn cần thiết để chuyển tiếp thành công sang cuộc sống bên ngoài tử cung. Các thông số lâm sàng sau được theo dõi bắt đầu trong phòng sinh và tiếp tục trong phòng mẹ/trẻ sơ sinh (mẹ và trẻ sơ sinh nằm cạnh nhau )hoặc phòng sơ sinh:
• Nhiệt độ – Nhiệt độ bình thường ở nách phải từ 36,5 đến 37,5°C (97,7 đến 99,5°F) đối với trẻ sơ sinh ở trong cũi mở [ 1,6 ]. Sự tăng thân nhiệt ban đầu có thể phản ánh tình trạng sốt của mẹ hoặc môi trường trong tử cung. Tình trạng tăng hoặc hạ thân nhiệt dai dẳng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng huyết. Hạ thân nhiệt có thể góp phần vào các rối loạn chuyển hóa như hạ đường huyết hoặc nhiễm toan. (See “Clinical features, evaluation, and diagnosis of sepsis in term and late preterm infants”.)
• Tần số hô hấp – Tần số hô hấp bình thường từ 40-60 lần/phút và nên được đếm trong đủ một phút. Thở nhanh có thể là dấu hiệu của bệnh hô hấp hoặc bệnh tim. Ngưng thở có thể là thứ phát do phơi nhiễm với thuốc của mẹ (ví dụ, thuốc gây mê hoặc thuốc an thần cho mẹ), một dấu hiệu của suy giảm thần kinh hoặc nhiễm trùng huyết.
• Nhịp tim – Nhịp tim bình thường từ 120 đến 160 lần/phút, nhưng có thể giảm xuống 85 đến 90 lần/phút ở một số trẻ sơ sinh đủ tháng trong khi ngủ. Nhịp tim quá cao hoặc thấp có thể là dấu hiệu của bệnh lý nền, như bệnh tim, nhiễm trùng huyết và rối loạn chuyển hóa.
• Màu da – Tím trung ương (môi, lưỡi và thân mình) có thể là dấu hiệu của bệnh hô hấp hoặc tim. (See “Overview of cyanosis in the newborn”.)
• Trương lực cơ – Giảm trương lực cơ có thể là thứ phát do phơi nhiễm với thuốc của mẹ hoặc mẹ bị sốt khi chuyển dạ [ 7 ], hoặc là dấu hiệu của một hội chứng nền (hội chứng Down), nhiễm trùng huyết, suy giảm thần kinh hoặc rối loạn chuyển hóa (ví dụ: hạ đường huyết). (See “Clinical features, diagnosis, and treatment of neonatal encephalopathy” and “Pathogenesis, screening, and diagnosis of neonatal hypoglycemia”, section on ‘Clinical manifestations’.)
Bệnh hô hấp và bệnh tim được nghi ngờ ở trẻ sơ sinh được thảo luận chi tiết hơn ở chủ đề riêng. (See “Overview of neonatal respiratory distress: Disorders of transition” and “Identifying newborns with critical congenital heart disease”.)

4. CHĂM SÓC TRẺ Ở PHÒNG SƠ SINH

4.1.Tổng quan về chăm sóc

Trẻ sơ sinh được nhận vào phòng sơ sinh phải được đánh giá kỹ lưỡng trong vòng 24 giờ sau khi sinh để xác định bất kỳ bất thường nào có thể làm thay đổi tiến trình trẻ sơ sinh bình thường hoặc xác định tình trạng y tế cần được giải quyết (ví dụ: dị tật, tổn thương khi sinh, vàng da, rối loạn tim phổi, hoặc tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết). Đánh giá trẻ sơ sinh bao gồm xem xét tiền sử của mẹ, gia đình và tiền sử trước khi sinh, và khám toàn diện được thảo luận chi tiết ở chủ đề riêng. Đánh giá và xử trí nhiễm trùng sơ sinh cũng được trình bày ở chủ đề riêng. (See “Assessment of the newborn infant” and “Clinical features, evaluation, and diagnosis of sepsis in term and late preterm infants” and “Management and outcome of sepsis in term and late preterm infants”.)
Ngoài việc đánh giá trẻ sơ sinh, các quy trình thường quy sau và thực hiện đánh giá liên tục sau khi sinh để ngăn ngừa các rối loạn nghiêm trọng:
• Chăm sóc mắt dự phòng để ngăn ngừa viêm kết mạc do lậu cầu ở trẻ sơ sinh
• Tiêm bắp (IM) vitamin K1 để ngăn ngừa chảy máu do thiếu vitamin K
(VKDB)
• Tiêm phòng viêm gan B
• Chăm sóc rốn để ngăn ngừa nhiễm trùng
• Theo dõi tình trạng tăng bilirubin và hạ đường huyết
• Sàng lọc sơ sinh

4.2.Chăm sóc mắt

Ở trẻ sơ sinh, nguy cơ bị viêm kết mạc do lậu cầu đã giảm rõ rệt khi dùng thuốc kháng sinh tra mắt dự phòng ngay sau khi sinh [ 8 ]. Thuốc dự phòng mắt an toàn, dễ sử dụng và là một phương pháp rẻ tiền để ngăn ngừa bệnh viêm kết mạc do lậu cầu đe dọa đến thị lực. Ở Hoa Kỳ, dự phòng bệnh viêm mắt do lậu cầu được khuyến cáo bởi US Preventive Services Task Force và bắt buộc đối với tất cả trẻ sơ sinh [ 9,10 ]. (See “Gonococcal infection in the newborn”, section on ‘Ophthalmia neonatorum’.)
Thuốc mỡ tra mắt Erythromycin (0,5%) được Viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) [ 8 ] và Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) [ 11 ] khuyến nghị dùng để dự phòng bệnh viêm kết mạc do lậu cầu ở trẻ sơ sinh. Thuốc mỡ tra mắt Erythromycin là thuốc duy nhất được phê duyệt ở Hoa Kỳ để phòng ngừa bệnh viêm kết mạc do lậu cầu ở trẻ sơ sinh. Nó nên được dùng như một vệt thuốc dài 1 cm ở mỗi mắt trong vòng hai giờ sau khi sinh.
Thuốc mỡ tra mắt Erythromycin ít gây viêm kết mạc do hóa chất hơn so với dung dịch bạc nitrat . Tuy nhiên, bạc nitrat có hiệu quả hơn trong việc dự phòng Neisseria gonorrhoeae sản xuất penicilinase so với erythromycin và nên được sử dụng ở những nơi mà vi sinh vật đang lưu hành [ 12,13 ]. Dung dịch bạc nitrat 1% và tetracycline 1% không có sẵn trên thị trường ở Hoa Kỳ.
Dung dịch Povidone-iodine (2,5%) cũng có thể ngăn ngừa nhiễm lậu cầu ở mắt với ít độc tính hơn và chi phí thấp hơn so với các thuốc khác, mặc dù cần có các nghiên cứu khẳng định thêm. Chế phẩm này không có sẵn trên thị trường ở Hoa Kỳ.
Nhiễm trùng mắt ở trẻ sơ sinh do Chlamydia trachomatis phổ biến ở Hoa Kỳ [ 8]. Các thuốc được sử dụng để dự phòng bệnh lậu không có hiệu quả trong việc ngăn ngừa viêm kết mạc do chlamydia ở trẻ sơ sinh. Biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa viêm kết mạc do chlamydia ở trẻ sơ sinh là chẩn đoán và điều trị nhiễm chlamydia ở phụ nữ có thai. (See “Chlamydia trachomatis infections in the newborn”, section on ‘Prophylaxis against conjunctivitis’.)

4.3.Kỹ thuật

Sau khi lau sạch từng mí mắt bằng bông gạc vô trùng, thuốc dự phòng được tra vào từng túi kết mạc dưới [ 14 ]. Thuốc được làm lan rộng bằng cách xoa bóp nhẹ nhàng mí mắt và có thể lau sạch dung dịch hoặc thuốc mỡ thừa sau một phút. Không nên rửa mắt sau khi dùng thuốc vì làm như vậy có thể giảm hiệu quả của thuốc.

4.4.Thời điểm và tác dụng phụ

Nên thực hiện dự phòng mắt trong vòng hai giờ sau khi sinh ở tất cả trẻ sơ sinh, bất kể phương thức sinh. Nếu việc dự phòng bị trì hoãn, cần thiết lập một hệ thống giám sát để đảm bảo rằng tất cả trẻ sơ sinh đều được điều trị dự phòng. Hiệu quả dự phòng khi bị trì hoãn lâu hơn thì không rõ.
Tác dụng phụ chính là viêm kết mạc do hóa chất (không lây nhiễm). Tình trạng này thường xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu tiên và tự khỏi sau 48 giờ. Nó thường gặp nhất sau khi dùng bạc nitrat.

4.5.Vitamin K

Vitamin K1 dự phòng (phytonadione) được tiêm cho trẻ sơ sinh ngay sau sinh để ngăn ngừa VKDB, trước đây được gọi là bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh. Dữ liệu cho thấy việc dùng vitamin K1 so với giả dược cải thiện các chỉ số sinh hóa của tình trạng đông máu trong tuần đầu tiên sau sinh và hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa VKDB.
Trong thực hành của chúng tôi, sử dụng một liều tiêm bắp duy nhất (IM) 1 mg, phù hợp với hướng dẫn của AAP và Hiệp hội nhi khoa Canada và hướng dẫn của Hiệp hội các bác sĩ gia đình Canada với liều duy nhất từ 0,5 đến 1 mg [ 15,16 ]. (See “Overview of vitamin K”, section on ‘Prevention’.)
Một liều vitamin K duy nhất cho thấy có hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa VKDB khởi phát muộn (được định nghĩa là VKDB từ 2 đến 12 tuần tuổi), khi so sánh với phác đồ vitamin K đường uống [ 17-21 ]. Bởi vì ảnh hưởng của VKDB muộn có thể rất khủng khiếp, chúng tôi khuyến cáo dùng dự phòng vitamin K bằng đường tiêm bắp (IM). Chế phẩm vitamin K đường uống để dự phòng cho trẻ sơ sinh không có sẵn ở Hoa Kỳ [ 15 ].
Ở một số quốc gia ngoài Hoa Kỳ, vitamin K đường uống được ủng hộ vì dễ sử dụng và ít tốn kém hơn. Tuy nhiên, mặc dù tăng liều vitamin K đường uống, nguy cơ chảy máu vẫn hiện hữu, bao gồm chảy máu nội sọ [ 22 ]. Dùng đường tiêm bắp được ủng hộ bởi một nghiên cứu báo cáo giảm chảy máu đáng kể ở Úc sau khi các hướng dẫn quốc gia khuyến cáo chuyển từ đường uống sang tiêm bắp [ 23 ].
Ở những nước sử dụng vitamin K đường uống là tiêu chuẩn, nên dùng IM thay vì dự phòng đường uống cho trẻ sinh non, đang dùng kháng sinh, hoặc bị bệnh gan hoặc tiêu chảy, vì trẻ có thể giảm hấp thu chế phẩm đường uống. VKDB vẫn có thể xuất hiện mặc dù tiêm bắp vitamin K ở trẻ sơ sinh bị bệnh gan [ 24 ].
Tỷ lệ cha mẹ từ chối dùng vitamin K cho trẻ sơ sinh là khoảng 0,5%, và sự từ chối của cha mẹ có liên quan đến một nửa số trường hợp VKDB nặng [ 23-25 ]. Trong các nghiên cứu của Úc đã đề cập ở trên, sáu trường hợp tử vong được báo cáo là do chảy máu nội sọ, trong đó ba trường hợp không được dùng vitamin K do cha mẹ từ chối [ 23 ]. Điều bắt buộc là cha mẹ phải được tư vấn về những hậu quả khủng khiếp tiềm ẩn của VKDB (ví dụ: chảy máu ruột, xuất huyết nội sọ với suy giảm phát triển thần kinh sau đó và có thể tử vong) nếu trẻ sơ sinh của họ không được dùng vitamin K.
Các nguyên nhân khác gây VKDB bao gồm không dùng vitamin K mặc dù đã có sự đồng ý của cha mẹ, bệnh gan hoặc mật và hiếm khi, có thể không xác định được nguyên nhân nền nào [ 23,24 ].

4.6.Trẻ sinh non

Liều dùng tối ưu ở trẻ sinh non chưa được xác định [ 26 ]. Ở viện chúng tôi, tất cả trẻ sơ sinh bất kể GA hay cân nặng khi sinh (BW) đều được tiêm bắp một liều vitamin K1 1 mg duy nhất sau khi sinh.

4.7.Rốn

Chăm sóc rốn sau sinh để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng (viêm rốn) phụ thuộc vào chất lượng chăm sóc lúc sinh và sau khi sinh. Nếu có sự gia tăng nguy cơ viêm rốn, đặc biệt trong điều kiện lâm sàng nguồn lực thấp, việc sử dụng các thuốc sát trùng (ví dụ, triple dye, cồn, bạc sulfadiazine và chlorhexidine ) để chăm sóc rốn là một lựa chọn tuyệt vời và rẻ tiền giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, chăm sóc vô trùng được thực hiện thường quy khi kẹp và cắt dây rốn, thì không cần chăm sóc thêm tại chỗ ngoài việc chăm sóc cuống rốn khô để ngăn ngừa viêm rốn. (See “Care of the umbilicus and management of umbilical disorders”, section on ‘Cord care’.)

4.8.Tiêm phòng viêm gan B

Khuyến cáo tiêm phòng cho tất cả trẻ sơ sinh bất kể tình trạng kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) của mẹ. Liều vắc xin viêm gan B đầu tiên được tiêm trong vòng 24 giờ sau khi sinh (Bảng 1) [ 27 ]. Trẻ sơ sinh của những bà mẹ có HBsAg dương tính nên được tiêm vắc xin viêm gan B (HBV) cùng với globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG) ngay sau sinh, tốt nhất là trong vòng 12 giờ tuổi (bảng 2). Nếu tình trạng HBsAg của người mẹ không được biết vào thời điểm sinh, trẻ sơ sinh nên được tiêm HBV trong vòng 12 giờ sau sinh trong khi chờ kết quả HBsAg của mẹ; nếu sau đó người mẹ được phát hiện có HBsAg dương tính, HBIG nên được tiêm cho trẻ sơ sinh trong tuần đầu tiên sau sinh. (See “Hepatitis B virus immunization in adults” and “Hepatitis B virus immunization in infants, children, and adolescents”, section on ‘Routine infant immunization’.)

4.9.Sàng lọc trẻ sơ sinh

Ở Hoa Kỳ, sàng lọc điếc bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa và di truyền, các bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng (CCHD) và các bệnh nhiễm trùng bẩm sinh mắc phải được thực hiện thường quy cho tất cả trẻ sơ sinh.

4.10.Khiếm thính

Khuyến cáo sàng lọc thính giác đối với tất cả trẻ sơ sinh để phát hiện khiếm thính. Ở Hoa Kỳ, tất cả 50 tiểu bang và Quận Columbia đều có đạo luật phát hiện và can thiệp thính giác sớm hoặc các chương trình tuân thủ tự nguyện nhằm sàng lọc thính giác ở trẻ sơ sinh. (See “Screening the newborn for hearing loss”.)

4.11.Rối loạn chuyển hóa và di truyền và nhiễm trùng bẩm sinh

Tất cả các bang đều yêu cầu sàng lọc sơ sinh đối với các rối loạn đe dọa đến tính mạng hoặc sức khỏe lâu dài, và can thiệp sớm cho thấy cải thiện kết cục. Còn được gọi là xét
nghiệm ” máu gót chân “, sàng lọc được thực hiện bằng cách phân tích các giọt máu được đặt trên giấy đặc biệt. Các rối loạn cụ thể được sàng lọc thay đổi theo từng tiểu bang; tuy nhiên, hầu hết các tiểu bang xét nghiệm các tình trạng do Health Resources and Services Administration (HRSA) quy định trong Recommended Uniform Screening Panel (RUSP) [ 28 ]. Máu được lấy để sàng lọc ban đầu trong khoảng thời gian từ 24 đến 48 giờ sau sinh; một số tiểu bang cũng yêu cầu sàng lọc lần hai, thường được lấy từ 7 đến 14 ngày tuổi. (See “Newborn screening”.)

4.12.Bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng

Ở Hoa Kỳ, tất cả 50 tiểu bang và quận Columbia thực hiện sàng lọc độ bão hòa oxy mao mạch để phát hiện bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng.

4.13.Cho ăn

Nên cho trẻ sơ sinh ăn sớm và thường xuyên để tránh hạ đường huyết. Tần suất, khoảng thời gian và thể tích các lần ăn phụ thuộc vào việc trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ hay sữa công thức. Mỗi lần ăn phải được ghi lại, và nếu trẻ sơ sinh ăn sữa công thức, thể tích mỗi lần ăn cũng phải được ghi lại.
Khuyến cáo cho trẻ bú sữa mẹ vì gia tăng lợi ích cho cả trẻ sơ sinh và mẹ khi so sánh với ăn sữa công thức, ngoại trừ khi có chống chỉ định về mặt y tế, như ở trẻ sơ sinh có mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch người (HIV) ở Hoa Kỳ, hoặc trong một số trường hợp mẹ lạm dụng thuốc. (See “Infant benefits of breastfeeding” and “Maternal and economic benefits of breastfeeding” and “Infants of mothers with substance use disorder”, section on ‘Breastfeeding’ and “Prenatal evaluation of women with HIV in resource-rich settings”.)
• Trẻ sơ sinh bú mẹ nên được cho bú càng sớm càng tốt sau khi sinh, tốt nhất là ngay trong phòng sinh. Chúng phải được bú ít nhất 8 đến 12 lần mỗi ngày trong thời gian trẻ sơ sinh nằm viện. Nằm cạnh mẹ, tiếp xúc da kề da, cho bú theo nhu cầu thường xuyên trong giai đoạn đầu sau sinh và hỗ trợ tiết sữa làm tăng tỷ lệ cho con bú thành công. (See “Breastfeeding: Parental education and support” and “Initiation of breastfeeding”.)
• Trẻ sơ sinh khỏe mạnh cho ăn sữa công thức phải được cung cấp tiêu chuẩn 19 đến 20 kcal/oz (19 đến 20 kcal/30 mL) sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh có chứa sắt. Trẻ sơ sinh được cho ăn theo nhu cầu, nhưng khoảng thời gian giữa các lần cho ăn không nên quá bốn giờ. Thể tích cho ăn mỗi lần ít nhất là 0,5 đến 1 oz (15 đến 30 mL) trong vài ngày đầu sau sinh.
• Sữa người hiến tặng, tiệt trùng có thể có sẵn ở một số phòng chăm sóc trẻ sơ sinh cho trẻ bú sữa mẹ, khỏe mạnh cần bổ sung thêm.

4.14.Giảm cân

Trẻ sơ sinh đủ tháng có thể mất tới 10% cân nặng khi sinh trong vài ngày đầu đời và thường lấy lại cân nặng khi sinh lúc 10 đến 14 ngày [ 29,30 ]. Trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn ,sinh mổ có xu hướng giảm cân nhiều hơn trong tuần đầu tiên của cuộc đời, được chứng minh bởi dữ liệu từ một tổ chức duy trì sức khỏe lớn, trong đó 25% trẻ bú mẹ hoàn toàn, sinh mổ bị giảm cân > 10% ở 72 giờ tuổi [ 30]. Trong nghiên cứu này, trẻ sinh qua âm đạo trở lại cân nặng khi sinh nhanh hơn so với trẻ sinh mổ. Đối với trẻ sinh qua âm đạo, 86% đạt được cân nặng khi sinh lúc 14 ngày và 95% lúc 21 ngày. Đối với trẻ sinh mổ, 76% đạt BW lúc 14 ngày và 92% lúc 21 ngày.
Giảm cân quá mức nên được đánh giá với việc đánh giá về tình trạng cho ăn đầy đủ, hỗ trợ tiết sữa liên tục cho các bà mẹ đang cho con bú và các biện pháp can thiệp nếu thấy cần thiết.
Toán đồ giảm cân dựa trên phương thức sinh và cho trẻ bú mẹ hoàn toàn đã được phát triển [ 29,30 ]. (See “Initiation of breastfeeding”, section on ‘Weight loss’.)
Sàng lọc glucose – Trẻ sơ sinh đủ tháng khỏe mạnh, không có triệu chứng được sinh ra sau một thai kỳ và quá trình sinh không có biến chứng có nguy cơ thấp hạ đường huyết đáng kể. Do đó, định lượng đường huyết không được thực hiện thường quy ở những trẻ sơ sinh này.
Theo hướng dẫn của AAP, theo dõi glucose nên được thực hiện đối với trẻ sơ sinh có các yếu tố nguy cơ sau [ 31 ]:
• Trẻ sơ sinh có tuổi thai <37 tuần.
• Lớn so với tuổi thai (LGA).
• Nhỏ so với tuổi thai (SGA).
• Trẻ sơ sinh có mẹ bị đái tháo đường (IDM).
• Trẻ sơ sinh có tiền sử gia đình bị hạ đường huyết dạng di truyền hoặc có
những dấu hiệu thực thể gợi ý đến một hội chứng (ví dụ: Beckwith-Wiedemann) có liên quan đến hạ đường huyết.
Ở viện chúng tôi cũng thực hiện sàng lọc glucose đối với trẻ được sinh ra từ những bà mẹ không được chăm sóc tiền sản. Các quần thể khác có nguy cơ bị hạ đường huyết bao gồm trẻ sơ sinh bị chậm tăng trưởng trong tử cung hoặc stress chu sinh, những trẻ sinh già tháng (tuổi thai > 42 tuần), và những trẻ có mẹ được điều trị bằng thuốc hạ đường huyết đường uống hoặc beta adrenergic. Các biểu hiện lâm sàng, đánh giá và xử trí hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh được trình bày ở chủ đề riêng. (See “Pathogenesis, screening, and diagnosis of neonatal hypoglycemia”.)

4.15.Cắt bao quy đầu ở trẻ sơ sinh

Các nguy cơ, lợi ích và thủ thật cắt bao quy đầu ở trẻ sơ sinh được thảo luận ở chủ đề riêng. (See “Neonatal circumcision: Risks and benefits” and “Techniques for neonatal circumcision”.)

4.16.Tăng bilirubin máu

Tăng bilirubin máu với nồng độ bilirubin toàn phần huyết thanh > 25 mg/dL (428 micromol/L) có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ rối loạn chức năng thần kinh do bilirubin (BIND). Do đó, trong quá trình sinh ở bệnh viện, trẻ sơ sinh nên được đánh giá định kỳ sau mỗi 8 đến 12 giờ và khi xuất viện để xem có biểu hiện vàng da hay không. Vì đánh giá bằng mắt thường không ước lượng chính xác mức độ tăng bilirubin máu, hầu hết các bệnh viện đều thực hiện xét nghiệm bilirubin thường quy bằng cách định lượng bilirubin qua da hoặc bilirubin toàn phần huyết thanh trước khi xuất viện. Tuy nhiên định lượng bilirubin toàn phần huyết thanh hoặc qua da nên được thực hiện ở bất kỳ trẻ sơ sinh nào có biểu hiện vàng da trong 24 giờ đầu sau sinh. Yếu tố dự báo đáng tin cậy nhất cho sự phát triển sau đó của tăng bilirubin máu đáng kể là kết hợp sàng lọc bilirubin trước khi xuất viện cùng với đánh giá các yếu tố nguy cơ. (See “Unconjugated hyperbilirubinemia in term and late preterm infants: Screening”, section on ‘Screening for hyperbilirubinemia’.)
Sàng lọc bilirubin với cả mức bilirubin toàn phần huyết thanh và mức bilirubin liên hợp hoặc trực tiếp có thể hữu ích trong việc xác định trẻ bị chít hẹp đường mật. (See “Biliary atresia”.)
Các biểu hiện lâm sàng, đánh giá và quản lý tăng bilirubin ở trẻ sơ sinh được thảo luận ở chủ đề riêng. (See “Unconjugated hyperbilirubinemia in term and late preterm infants: Epidemiology and clinical manifestations” and “Unconjugated hyperbilirubinemia in term and late preterm infants: Screening” and “Unconjugated hyperbilirubinemia in term and late preterm infants: Management”.)

4.17.Giáo dục cha mẹ sau khi sinh

Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính nên được đào tạo và chứng minh năng lực hoặc sự hiểu biết về các nhiệm vụ chăm sóc trẻ sơ sinh sau đây:
• Tầm quan trọng và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. (See “Breastfeeding: Parental education and support” and “Infant benefits of breastfeeding” and “Maternal and economic benefits of breastfeeding” and “Patient education: Breastfeeding (The Basics)” and “Patient education: Deciding to breastfeed (The Basics)”.)
• N ếu cho con bú, tư thế của trẻ, cách ng ậm và nuốt thích hợp. (See “Initiation of breastfeeding”.)
• Số lần đi tiểu và đi ngoài thích hợp, biểu hiện bình thường và bất thường của nước tiểu và phân. Đặc biệt, khi không có sự bài tiết mật vào ruột, phân có màu trắng đục hoặc nhợt nhạt có thể là dấu hiệu sớm của tình trạng chít hẹp đường mật. (See “Biliary atresia”, section on ‘Signs and symptoms’.)
• Chăm sóc rốn, da và bộ phận sinh dục. (See “Care of the umbilicus and management of umbilical disorders”, section on ‘Umbilical -cord at birth’ and “Techniques for neonatal
• Nhận biết dấu hiệu của các bệnh lý thông thường ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là tăng bilirubin máu và nhiễm trùng huyết. (See “Patient education: Jaundice in babies (The Basics)” and “Patient education: Jaundice in newborn infants (Beyond the Basics)” and “Patient education: Sepsis in newborn babies (The Basics)”.)
• Sự an toàn thích hợp cho trẻ sơ sinh, bao gồm tư thế nằm ngửa khi ngủ và ngủ trên đệm cứng, lắp đặt và sử dụng ghế an toàn trên xe hơi và vệ sinh tay (See “Sudden infant death syndrome: Risk factors and risk reduction strategies”, section on ‘Sleep position’ and “Sudden infant death syndrome: Risk factors and risk reduction strategies”, section on ‘Sleep environment’ and “Patient education: Sudden infant death syndrome (SIDS) (The Basics)”.)
• Các chiến lược mà cha mẹ có thể dùng để giảm đau trong khi tiêm chủng định kỳ cho trẻ sơ sinh, được thảo luận ở chủ đề riêng. (See “Standard immunizations for children and adolescents: Overview”, section on ‘Reducing injection pain’.)

5. THỜI GIAN NẰM VIỆN

Thời gian nằm viện tối ưu (LOHS) khác nhau đối với từng cặp mẹ-con và phải đủ dài để cho phép phát hiện sớm các vấn đề ở trẻ sơ sinh và để đảm bảo rằng gia đình có khả năng và đã chuẩn bị để chăm sóc trẻ tại nhà [ 32 ]. Các yếu tố liên quan đến quyết định này bao gồm sức khỏe của người mẹ, sức khỏe và sự ổn định của trẻ sơ sinh, khả năng và sự t