Quản lí ho: Vai trò của chuyên gia âm ngữ trong điều trị ho mạn tính

Bài viết Quản lí ho: Vai trò của chuyên gia âm ngữ trong điều trị ho mạn tính được biên dịch bởi BS. CK1 Hồ Thị Hoài Thu và BS. Trần Minh Dũng từ Sách “Ho Mạn Tính: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị” của tác giả Hadas Golan and Chandler C. Thompson.

1. Tổng quan

Ho kéo dài hơn 8 tuần, mặc dù được điều trị và thăm khám tích cực, được coi là ho mạn tính. Rối loạn chức năng thanh qunar và kích thích thanh quản được ngày càng được công nhận trong ho mạn tính, với các bệnh nhân mô tả các yếu tố gây ho liên quan đến phát âm, nuốt, và / hoặc hô hấp. Các triệu chứng thanh quản khác như khàn giọng, khó thở, thở rít, và cảm giác tắc họng thường cùng tồn tại với ho. Có bằng chứng cho thấy lợi ích của việc chăm sóc phối hợp giữa khoa tai-thanh quản và khoa âm – ngữ trong điều trị bệnh nhân với ho mạn tính khi các triệu chứng thường khu trú ở thanh quản.

Bệnh nhân thường xuyên kể lại rằng đã tham khảo nhiều chuyên gia để tìm kiếm thông tin về các nguyên nhân và các phương pháp chữa trị: bác sĩ chăm sóc ban đầu, bác sĩ nhi khoa, bác sĩ tai thanh quản, bác sĩ hô hấp, bác sĩ dị ứng, bác sĩ tiêu hóa, và bác sĩ tâm lý. Làm việc cùng một số hoặc tất cả các cộng tác viên lâm sàng này, bác sĩ âm ngữ được đào tạo độc nhất và có trình độ để điều trị hành vi bằng giọng nói, nuốt, và rối loạn vận động tạo lời nói, cho phép họ phát hiện và giải quyết những bất thường chức năng thanh quản và chức năng hô hấp.

Trong môi trường phòng khám ngữ âm, việc điều trị ho mạn tính đã trở thành một phần bệnh nhân đáng kể của SLP và việc can thiệp của SLP đưa ra các lựa chọn cho bệnh nhân đã mệt mỏi vì điều trị thông thường hoặc bệnh nhân đòi hỏi kiểm soát hành vi kết hợp với trị liệu y khoa. Trong chương này, các tài liệu liên quan đến kiểm soát hành vi của ho mạn tính và các bệnh lí thanh quản liên quan bởi SLPs sẽ được xem xét. Quá trình đánh giá các biểu hiện hành vi liên quan đến phàn nàn của bệnh nhân sẽ được mô tả, và lựa chọn điều trị bắt đầu bằng phương pháp SLP truyền thống và tiếp tục với các phương thức ít truyền thống hơn nhưng ngày càng được sử dụng phổ biến hơn sẽ được thảo luận. Dữ liệu từ xem xét hệ thống của những biện pháp không dùng thuốc với ho mạn tính bởi Chamberlain và cộng sự cho thấy việc sử dụng 2-4 buổi âm ngữ trị liệu mà bao gồm giáo dục, kỹ thuật ức chế ho, tập hít thở, vệ sinh giọng nói và uống nhiều nước, và tư vấn. những biện pháp này đã cho thấy giảm đáng kể độ nhạy với phản xạ ho , từ đó dẫn đến giảm tính nghiêm trọng và tần suất cơn ho, và cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến ho ở những người ho mạn tính. Một thử nghiệm kiểm soát ngẫu nhiên ở 87 bệnh nhân ho mạn tính chứng minh sự cải thiện đáng kể thang điểm triệu chứng ho do các can thiệp này mang lại so với những bệnh nhân chứng, chỉ nhận được lời khuyên và giáo dục lối sống lành mạnh.

Hình ảnh minh họa Phòng khám âm ngữ
Hình ảnh minh họa Phòng khám âm ngữ

2. Các cơ chế cơ bản của ho được giải quyết trong điều trị SLP

Kiểm soát âm ngữ trị liệu của ho mạn tính được thiết kể để tăng niềm tin về tính có hiệu lực của bệnh nhân trong khả năng của họ để phá vỡ vòng luẩn quẩn của kích thích – ho. Lee và cộng sự mô tả ho như một “phản ứng hô hấp phức tạp”, liên quan đến phức hợp các phản xạ thân não không tự ý và kiểm soát vỏ não tự ý. Các nghiên cứu về ho do capsa- icin, và ho liên quan nhiễm trùng đường hô hấp trên URTI, đã chỉ ra rằng ho nằm dưới sự kiểm soát của vỏ não, và có thể được ức chế hoặc hoạt hóa tự ý. Cố ý ho để đáp ứng với kích thích thanh quản, thay vì mục đích làm sạch phổi, có thể đưa tới vòng phản hồi tích cực trong đó kích thích gây ra ho, gây kích thích hơn và do đó tăng nhạy cảm với thụ thể thần kinh hướng tâm dẫn đến ngưỡng ho giảm. Trị liệu âm ngữ nhằm tăng khả năng kiểm soát ho tự ý và giảm độ nhạy cảm với phản xạ ho. Sử dụng test độ nhạy ho với capsaicin, theo dõi ho lưu động, và tự đánh giá ho, Ryen et al đã chứng minh rằng việc kiềm chế ho chủ động làm tăng ngưỡng ho. Khi bệnh nhân của họ học cách tự kiềm chế ho bằng cách tập luyện âm ngữ trị liệu và phá vỡ vòng luẩn quẩn này, độ nhạy phản xạ họ và tần suất ho giảm đi là chất lượng sống liên quan tới ho được cải thiện.

3. Các rối loạn đường thở trên liên quan đến ho mạn tính

Các rối loạn thanh quản khác thường cùng tồn tại ở bệnh nhân ho mạn tính mà ảnh hưởng tới hít thở, nuốt và giọng nói. Có một mối quan hệ phức tạp giữa ho mạn tính, rối loạn chuyển động dây thanh âm nghịch lí (PVFMD) (cũng được biết đến rối loạn chức năng dây thanh), globus pharyngeus, và rối loạn phát âm do căng cơ (MTD). Những bệnh lí này, một phần hoặc toàn bộ, đều được xem là biểu hiện của hội chứng mẫn cảm thanh quản và đáp ứng tương tự với biện pháp âm ngữ trị liệu. một vài mô hình lý thuyết được đề xuất để mô tả rõ hơn các tình trạng này.

Mô hình hội chứng thanh quản dễ kích thích (ILS), do Morrison và Ram- mage giới thiệu, đề xuất rằng ILS là một hội chứng nhạy cảm trung ương do tính khả biến thần kinh trung ương bởi các tổn thương mô hoặc thần kinh. Điều này biểu hiện như một thanh quản có cấu trúc bình thường mà rối loạn chức năng do tư thế thanh quản bất thường và căng cơ có thể sờ được liên quan đến cơ thanh quản trong và ngoài. Nguyên nhân có thể bao gồm lạm dụng cơ theo thói quen, cảm xúc đau khổ, bệnh nhiễm virus, và kích thích trào ngược dạ dày thực quản mạn tính. ILS xảy ra khi hệ thần kinh ở thân não chịu trách nhiệm kiểm soát thanh quản được duy trì ở trạng thái quá kích thích, dẫn đến phản ứng khuếch đại của cơ thanh quản và cơcạnh thanh quản đối với đầu vào cảm giác bình thường. Các triệu chứng liên quan có thể bao gồm các đợt co thắt thanh quản, MTD, globus phảyngeus, và ho mạn tính và có thể được kích hoạt bởi các kích thích đa dạng. Murry et al đề xuất rằng ho mạn tính ở bệnh nhân PVFMD liên quan đến cảm giác thanh quản khác thường, thanh quản thực sự bị phù và giảm mẫn cảm do kích thích acid mạn tính do LPR gây ra, dẫn đến việc bổ sung nghịch lí dây thanh âm trong khi hít như một đáp ứng bảo vệ lại tác nhân kích thích hít phải.

Một mô hình thứ hai là sự xuất hiện định kì của tắc nghẽn thanh quản (POLO) nói tới khó thở từng đợt là triệu chứng chính trong đáp ứng với các yếu tố kích thích. Trong mô hình này, ho được xem là một triệu chứng đồng thời cùng với tiếng thở ồn (thở rít), tức ngực và / hoặc họng, và rối loạn phát âm. Trong một bài báo phát hành gần đây, Shembel et al đã đề xuất một mô hình thuật toán lí thuyết tích hợp phân loại các đặc điểm lâm sàng chính của loạt rối loạn này, được gọi là các rối loạn hô hấp thanh quản thành đợt (ELBDs). Nó bao gồm các phân nhóm lâm sàng để giải thích sự thay đổi đáng kể trong biểu hiện triệu chứng, các dấy hiệu soi thanh quản, và các yếu tố kích thích. Họ kêu gọi một cách tiếp cận liên chuyên ngành để cải thiệu các tiêu chuẩn chẩn đoán và nghiên cứu trong tương lai về các cơ chế sinh lí bệnh căn bản của ELBDs.

Ho mạn tính liên quan tới PVFMD. Hai tình trạng này thường xảy ra đồng thời: Ho mạn tính được mô tả ở 80% bệnh nhân mắc PVFMD. Trong một nghiên cứu, các bệnh nhân mắc PVFMD có triệu chứng chính là ho ở 59% đối tượng, và ở các đối tượng khác, việc khép dây thanh âm trong khi hít vào hiện diện ở 56% đối tượng mắc ho mạn tính. Vertigan et al đã đề xuất một mô hình mô tả ho mạn tính và PVFMD liên tục, với ho thuần túy và PVFMD thuần túy ở cả khi kết thúc quá trình và một số kết hợp cả hai ở giữa quá trình. Vì lí do này, PVFMD sẽ được đưa vào thảo luận về đánh giá và các phương thức điều trị khác nhau của ho mạn tính sau chương này. Khi một bệnh nhân đã được chuyển tới SLP thích hợp, việc đánh giá toàn diện sẽ được tiến hành, đưa đến các khuyến cáo điều trị.

4. Đánh giá

SLPs có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá ho mạn tính, ngay cả khi nguyên nhân không rõ hoặc đa yếu tố. trong cuốn sách “Speech Pathology Management of Chronic Refractory Cough and Relat- ed Disorders” (Kiểm soát âm ngữ trị liệu trong ho mạn tính dai dẳng và các rối loạn liên quan), Vertigan và Gibson mô tả các tiêu chí bao hàm và loại trừ để giới thiệu đến SLP để điều tị ho mạn tính và PVFMD. Chúng có thể hữu ích đối với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để làm quen trước khi giới thiệu, đặc biệt là chúng có thể loại trừ bệnh lí căn bản nghiêm trọng và / hpacwj để điều chỉnh liều thuốc cho hen và GER, để thay thế các loại thuốc khác cho những loại mà có thể gây ho như ACEI, và để cân nhắc xét nghiệm trào ngược họng không acid gây ra bởi pepsin.

Tiêu chí bao gồm:

  • Ho đủ điều kiện là mạn tính (8+ tuần từ khi khởi phát).
  • Ho là vấn đề đối với bệnh nhân.
  • Ho vẫn tồn tại mặc dù điều trị y khoa cho các nguyên nhân thường gặp của

Tiêu chí loại trừ:

  • Hen không được điều trị , GERD/LPR, dị ứng, viêm mũi (có thể xảy ra đồng thời với điều trị SLP) .
  • Nhiễm trùng hô hấp trên mới đây.
  • Hô hấp kí không đượ thực hiện; hen suyễn không được đánh giá lại trong 2 năm qua
  • Thử nghiệm ngưng thuốc ACEI vẫn chưa được tiến hành.
  • Bệnh nhân vẫn chưa được đánh giá bởi/ giới thiệu bởi bác sĩ hô hấp / bác sĩ tai mũi họng.

Hiệp hội Thính giác – Ngôn ngữ – Nói của Hoa Kỳ đã cung cấp một mẫu được đồng thuận và đánh giá cao về chuyên môn để SLPs sử dụng khi đánh giá các rối loạn giọng nói và thanh quản. Các câu hỏi bao gồm có thể giúp hướng dẫn người hành nghề xác định chức năng tổng thể của thanh quản.

5. Bệnh án

Thông tin được cung cấp bởi bệnh nhân vào thời điểm đánh giá ban đầu nên bao gồm chẩn đoán y khoa, ngày khởi phát ho, tiền sử phẫu thuật và bệnh liên quan, thuốc và dị ứng. Các bảng câu hỏi như Cough Severity Index (CSI) (bảng 8-1), Leicester Cough Questionnaire (LCQ), Voice Handicap Index-10 (VHI-10) (bảng 8-2), Dyspnea Index (DI) (Bảng 8-3), và Reflux Symptom Index (RSI) (Bảng 8-4) cung cấp các dấu hiệu về mức độ nghiêm trọng của ho mạn tính và tác động của nó lên đời sống bệnh nhân. Thông tin về chăm sóc giọng nói, bao gồm nước, caffeine, rượu và các đồ uống khác, hút thuốc và tiền sử ma túy, và các hoạt động thanh âm tại nơi làm việc, ở nhà, và xã hội, cung cấp các chi tiết có thể giúp SLP hiểu được nhu cầu thanh quản tổng quát của bệnh nhân. Tiền sử trào ngược và tiếp xúc với các tác nhân kích thích môi trường (thay đổi nhiệt độ, khói, hóa chất và các dị nguyên) cũng đóng góp những thông tin giá trị. ngoài các câu hỏi về sửdụng giọng nói ra, các bác sĩ cũng nên bao gồm các câu hỏi về hít thở và nuốt, cũng như các câu hỏi ho đặc trưng như:

  • Khi nào ho khởi phát và sự kiện cụ thể nào liên quan không?
  • Điều gì xảy ra ngay trước khi bạn ho?
The Cough severity index (Csi) is a self-administered, 10-item out- comes instrument to quantify a patient’s symptoms of chronic cough

of upper airway origin. the total score ranges from 0 to 40 based on the sum of responses to 10 questions on a 5-point scale ranging from “nev- er a problem” to “always a problem.” ascore of 3 or below is considered normal. ascore higher than 3 means that the cough may be impacting quality of life.

 

Never

Almost neverSome- timesAlmost always 

Always

My cough is worse when i lie down. 

0

 

1

 

234

My coughing problem causes me to restrict mypersonal and social life. 

 

0

 

 

1

 

 

234

 

 

Itend to avoid places be- cause of my coughing problem. 

0

 

1

 

234

Ifeel embarrassed because of my coughing problem. 

0

 

1

 

234

People ask, “what’s wrong?” because icough a lot 

0

 

1

 

234

Irun out of air when icough.01234
My coughing problem affects my voice.01234
My coughing problem lim- its my physical activity.01234
My coughing problem upsets me.01234
People ask me if i’m sick because icough a lot.01234

 

Table 8 – 1. Cough severity index (Csi)

  •  Bạn có bắt đầu ho để phản ứng lại các kích thích không, hay ho chỉ đơn giản là “bùng nổ”?
  • Có những sự kiện cụ thể, các hoàn cảnh, hoặc căng thẳng nghiêm trọng mà thường kích hoạt một đợt ho không?
  • Chiến lược điều trị nào bạn đã sử dụng để cố làm giảm ho, hoặc phá vỡ chu kì ho?
  • Mức độ nghiêm trọng và / hoặc khoảng thời gian của một cơn ho gây ra nôn mửa / tiểu không tự chủ?
  • Có phải cơn ho của bạn bị kích hoạt bởi nói chuyện, cười, đi lại, hay ngáp không?
  • Có phải cơn ho của bạn bị kích hoạt bởi ăn uống thông thường không? Hay thực phẩm cụ thể nào không?
  • Bạn có bấy kì khó khăn nào khi nuốt nước bọt, một số thực phẩm, hoặc chất lỏng nhất định không?
  • Bạn có khó thở không? Khó hơn khi thở vào hay thở ra?
The voice handicap index 10-item (vhi-10) is a self-administered,

10-item outcomes instrument to quantify patients’ perception of their voice handicap. the total score ranges from 0 to 40 based on the sum of responses to 10 questions on a 5-point scale ranging from “never a problem” to “always a problem.” no impact = 0%; moderate impact = 50%; significant impact = 100%.

NeverAlmost neverSome- timesAlmost alwaysAlways
1. My voice makes it difficult for people to hear me. 

0

 

1

 

234

2. People have difficulty understanding me in a noisy room. 

0

 

1

 

234

3. People ask, “what’s wrong with your voice?”01234
4. Ifeel as though ihave to strain to produce voice 

0

 

1

 

234

5. My voice difficulties restrict my personal and social life. 

0

 

1

 

234

6. The clarity of my voice is unpredictable. 

0

 

1

 

234

7. Ifeel left out of conversation because of my voice. 

0

 

1

 

234

8. My voice problem causes me to lose income. 

0

 

1

 

234

9. My voice problem upsets me.01234
10. My voice makes me feel handicapped01234

Table 8 –2. The voice handicap index 10-item (vhi-10)

The dyspnea index (di) is a self-administered, 10-item outcomes instrument to quantify severity of symptoms in upper airway dyspnea. preliminary data suggest that a score of <7 can be considered normal and >10 is suggestive of pvfm. achange score of 8 has been shown to be meaningful.
NeverAlmost neverSome- timesAlmost alwaysAlways
Ihave trouble getting air in.01234
Ifeel tightness in my throat when iam having my breathing problem. 

0

 

1

 

234

It takes more effort to breathe than it used to. 

0

 

1

 

234

Changes in weather affect my breathing problem. 

0

 

1

 

234

My breathing gets worse with stress. 

0

 

1

 

234

Imake sound/noise breathing in. 

0

 

1

 

234

Ihave to strain to breathe.01234
My shortness of breath gets worse with exercise or physical activity. 

0

 

1

 

234

My breathing problem makes me feel stressed. 

0

 

1

 

234

My breathing problem causes me to restrict my personal and social life. 

0

 

1

 

234

Table 8 –3. Dyspnea index (di)

Sources:

  1. De guzman v, ballif Cl, maurer r, hartnick CJ, raol n. validation of the dyspnea index in adolescents with exercise-induced paradoxical vocal fold motion. JAMA Otolaryngol Head Neck Surg. 2014;140(9):823–828.
  2. shembel aC, hartnick, C, bunting g, et al. perceptual clinical features in exer- cise-induced laryngeal obstruction (eilo):towards improving diagnostic ap- Journal of Voice. 2018
The reflux symptom index (rsi) is a self-administered, 9-item outcomes instrument to quantify symptoms in patients with laryngopharyngeal reflux (lpr). an rsiscore of ≤13 can be considered normal. some degree of reflux

is present in normal individuals. ascore >13 is suggestive of significant

lprsymptoms.

No Problem (0) 

(1)

 

(2)

 

(3)

 

(4)

Severe Problem (5)
1. Hoarseness or a problem with your voice012345
2. Clearing your throat012345
3. Excess throat mucus or post nasal drip 

0

 

1

 

234

 

5

4. Difficulty swallowing food, liquids, or pills 

0

 

1

 

234

 

5

5. Coughing after you ate or while lying down 

0

 

1

 

234

 

5

6. Breathing difficulties or choking episodes 

0

 

1

 

234

 

5

7. Troublesome or annoying cough 

0

 

1

 

234

 

5

8. Sensation of something sticking in your throat or a lump in your throat 

0

 

1

 

234

 

5

9. heartburn, chest pain, indigestion, or stomach acid coming up 

0

 

1

 

234

 

5

 

Table 8 – 4 . The RSI

6. Theo dõi của bác sĩ SLP

Việc đánh giá lâm sàng bao gồm theo dõi về tư thế, hô hấp, liên quan đến ho và các hành vi giọng nói. Ví dụ: bệnh nhân có biểu hiện thở rít không? Nói chuyện có gây ho không? Các quan sát bổ sung có thể giúp bác sĩ lâm sàng kết cấu kế hoạch điều trị bao gồm:

6.1. Kiểu thở

  • Cơ hoành / ngực trên / xương đòn.
  • Tỉ lệ hít vào:thở
  • Đều/không đều.
  • Đường thở (miệng/mũi).
  • Giữ hơi thở.
  • Động tác bụng nghịch lí trong khi thở sâu.
  • Thở dài, thở hổn hển, ngáp quá nhiều.
  • Nhiều động tác hô hấp rõ rệt
  • Thayđổi kiểu thở sau một bài tập yêu cầu ngắn
  • Thường xuyên hắng giọng
  • Nói quá nhiều trong một hơi thở
  • Hết hơi khi nói
  • Nhiều động tác hô hấp rõ rệt
  • Thayđổi kiểu thở sau một bài tập yêu cầu ngắn
  • Thường xuyên hắng giọng
  • Nói quá nhiều trong một hơi thở
  • Hết hơi khi nói

6.2. Thói quen sử dụng giọng nói

  • Thói quen sử dụng giọng nói
  • Âm lượng
  • Tốc độ nói
  • Độ cao
  • Dạng cộng hưởng

Đánh giá căng cơ được ghi nhận bởi SLP ở phần trên cơ thể, bụng, cổ, hàm, mặt, môi, hoặc đáy lưỡi có thể giúp hiểu rõ hơn về các dạng rối loạn chức năng. Điều này có thể được mở rộng để quat sát tư thế trong khi ngồi và đứng (được đề cập chi tiết ở phần sau của chương này) và các quan sát được thực hiện trong sờ nắn thanh quản, như nhạy cảm / đau, giảm khoảng cách tuyến giáp, nâng cao trong khi nói, và có hay không sờ nắn thanh quản gây ho.

7. Các đo lường chức năng

Bởi vì rối loạn phát âm là thường gặp trong ho mạn tính, đánh giá giọng nói là một phần của buổi đánh giá. Một đánh giá toàn diện bao gồm các công cụ đo lường được chỉ định ở những đối tượng kể lại có sự thay đổi giọng nói hoặc bị khó nuốt. Đối với những người có quyền truy cập vào thiết bị chuyên dụng, phân tích âm thanh, và đo lường khí động học của chức năng thanh quản có thể cung cấp cho các bác sĩ dữ liệu khách quan, đượ tập hợp trong một danh mục liệt kê các nhiệm vụ, như kéo dài nguyên âm, lướt độ cao, áp suất không khí hạ thanh âm, nghĩa là luồng không khí trong khi nói, và dung tích sống, để kể tên một số. Những đo lường gián tiếp của việc tạo ra giọng nói này cung cấp sự hiểu biết đầy đủ hơn về hành vi và chức năng thanh quản, và cho phép các bác sĩ đưa ra những suy luận về sinh lí dây thanh và thanh quản. Trong tay của một bác sĩ lâm sàng lành nghề được đào tạo và có kinh nghiệm thích hợp, những phương pháp đo lường chức năng này cũng giúp xác định nguyên nhân, chẩn đoán, mức độ, và những thay đổi có thể đo lường được về sinh lý của dây thanh âm sau một liệu trình điều trị.

Việc đánh giá qua soi hoạt nghiệm thanh quản được thực hiện thường xuyên ở phòng khám về giọng nói, để cung cấp thông tin liên quan đến cấu trúc và chức năng thanh quản. nội soi thanh quản giúp xác định những chuyển động thanh quản bất thường trong khi hô hấp và phát âm. Việc bổ sung nguồn sáng stroboscopic cung cấp cho các bác sĩ một ảo giác về chuyển động chậm của rung động dây thanh âm cho phép họ phát hiện những thay đổi tinh tế trong hành vi rung động của dây thanh âm. Soi hoạt nghiệm thanh quản là cần thiết để loại trừ bệnh lí thanh quản như tổn thương dây thanh âm thô hoặc tinh vi, các vấn đề về cử động, hoặc tắc nghẽn đường thở. Nội soi thanh quản cũng được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán PVFMD. Nếu bệnh nhân không có triệu chứng vào lúc khám soi thanh quản, yêu cầu họ nói hổn hển, thở sâu, hoặc thực hiện một bài tập yêu cầu, bao gồm một cái gì đó càng nhanh càng tốt từ 0 – 100 trong vài hơi thở càng tốt, đôi khi có thể gây ra triệu chứng. Giliberto et al lưu ý rằng ở 80% bệnh nhân ho mạn tính được cho là do bệnh lí thần kinh lang thang, sự bất cân xứng chuyển động của dây thanh âm được ghi nhận trong khi khám soi hoạt nghiệm dây thanh. Đối với các bác sĩ lâm sàng mà không có phòng thí nghiệm giọng nói theo ý của họ, các biện pháp như tỉ lệ s:z, thời gian phát âm tối đa, triệu chứng khởi phát chậm, lướt cao độ, và trung bình cao độ trong khi nói có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi thanh quản. Ngoài ra, có những ứng dụng mới trên smartphone và các chương trình kỹ thuật số có thể được tải xuống và sử dụng bởi các bác sĩ mà đầu tư thời gian để làm quen với công nghệ.

8. Điều trị

8.1.