Nghiên cứu so sánh Dopamine và Epinephrine trong điều trị sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em

Bài viết Nghiên cứu so sánh Dopamine và Epinephrine trong điều trị sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em được dịch bởi Bác sĩ Đặng Thanh Tuấn từ bài viết gốc: Double-Blind Prospective Randomized Controlled Trial of Dopamine Versus Epinephrine as First-Line Vasoactive Drugs in Pediatric Septic Shock

Mục tiêu: Kết quả chính là so sánh hiệu quả của dopamine hoặc epinephrine trong nhiễm trùng huyết nặng trên tử suất 28 ngày; các kết cục thứ phát là tỷ lệ nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu các thuốc vận mạch khác, và điểm rối loạn chức năng đa cơ quan.

Thiết kế: Thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên, mù đôi, tiền cứu từ ngày 1 tháng 2 năm 2009 đến ngày 31 tháng 7 năm 2013.

Địa điểm: PICU, Bệnh viện Đại học de São Paulo, Brazil.

Bệnh nhân: Trẻ em từ 1 tháng đến 15 tuổi và đáp ứng được các tiêu chuẩn lâm sàng cho sốc nhiễm trùng không đáp ứng dịch truyền. Loại trừ các trường hợp đã nhận được thuốc vận mạch trước khi nhập viện, đã biết bệnh tim, đã tham gia thử nghiệm trong cùng một thời gian ở bệnh viện, từ chối tham gia, hoặc có các y lệnh không phải hồi sức.

Các can thiệp: Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để nhận dopamine (5-10 μg/kg/phút) hoặc epinephrine (0.1-0.3 μg/kg/phút) thông qua đường ngoại biên hoặc đường tiêm tủy xương. Bệnh nhân không đạt được các tiêu chuẩn ổn định được xác định trước sau khi liều tối đa được phân loại là thất bại điều trị, khi đó bác sĩ tham gia đã ngừng thuốc nghiên cứu và bắt đầu một loại catecholamine khác.

Đo lường và Kết quả chính: Dữ liệu sinh lý và xét nghiệm được ghi lại. Các đặc tính ban đầu được mô tả theo tỉ lệ và trung bình (± SD) và so sánh bằng các phép thử thống kê thích hợp. Phân tích hồi quy đa biến đã được thực hiện, và ý nghĩa thống kê đã được định nghĩa là một giá trị p ít hơn 0,05. Các đặc điểm ban đầu và can thiệp điều trị cho 120 trẻ em được ghi danh (63, dopamine, 57, epinephrine) tương tự. Có 17 người chết (14,2%): 13 (20,6%) ở nhóm dopamine và 4 (7%) ở nhóm epinephrine (p = 0,033). Dopamine có liên quan đến tử vong (tỷ số chênh, 6.5, 95% CI, 1.1-37.8, p = 0.037) và tỷ lệ nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khoẻ (tỷ lệ chênh, 67.7, 95% CI, 5.0-910.8, p = 0.001). Việc sử dụng epinephrine có liên quan đến tỉ lệ sống sót là 6.49.

Kết luận: Dopamine có liên quan đến nguy cơ tử vong và nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khoẻ. Việc sử dụng epinephrine ngoại biên hoặc đường tủy xương sớm ban đầu có liên quan đến sự sống sót tăng lên trong quần thể này. Những điểm hạn chế cần được quan sát khi giải thích những kết quả này.

Nhiễm trùng huyết (NTH) nặng tiếp tục được công nhận là một vấn đề y tế quan trọng trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm trùng huyết ở trẻ em bị bệnh nặng sẽ gia tăng khi có nhiều trẻ em sống sót bệnh tật mà trước đây được coi là chắc chắn tử vong. Ở trẻ em, tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển là khoảng 10% (1), và ở các nước đang phát triển là 18% (2). Nếu có sốc nhiễm trùng, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 50% (3).

Các nỗ lực hợp tác quốc tế để cải thiện việc chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng huyết ở trẻ em và trẻ sơ sinh đã được áp dụng trong hơn một thập kỉ (4, 5). Việc tuân thủ các khuyến cáo về hướng dẫn đã làm giảm tỷ lệ tử vong ở các nước đã phát triển (tỷ lệ sống sót, 6,81, 95% CI, 1,26-36,80) (6) và các nước đang phát triển (tỉ lệ tử vong, 0,33, 95% CI, 0,13-0,85) (7). Tuy nhiên, một số khía cạnh của hướng dẫn vẫn còn là một vấn đề tranh luận. Một trong số đó, do sự thiếu hụt nghiên cứu, loại thuốc vận mạch nào được lựa chọn đầu tiên là thuốc lựa chọn tốt nhất cho trẻ em bị sốc nhiễm trùng không đáp ứng với dịch truyền. Vì rối loạn chức năng của cơ tim được ghi nhận ở người lớn (8) và trẻ em bị nhiễm trùng huyết nặng (9,10), chúng tôi đã giả thuyết rằng trẻ bị sốc nhiễm trùng không đáp ứng với dịch truyền sẽ được hưởng lợi từ một loại thuốc co bóp cơ tim.

Để giải quyết giả thuyết này, chúng tôi tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi, đơn trung tâm, tiền cứu, ở trẻ em bị sốc nhiễm trùng không đáp ứng dịch truyền để xác định dopamine hoặc epinephrine làm giảm tử vong 28 ngày. Kết cục thứ phát là tỷ lệ nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khoẻ (HAI), nhu cầu các thuốc vận mạch khác và thang điểm rối loạn chức năng đa cơ quan.

PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu đã được ưng thuận bởi ủy ban đạo đức tại Bệnh viện Universitário da Universidade de São Paulo, Brazil. Trong thời gian đào tạo 3 tháng, chúng tôi xác nhận phần mềm đã được sử dụng để phân phối bệnh nhân nhóm A (dopamine) hoặc nhóm B (epinephrine) và để tính toán thể tích thuốc vận mạch, lượng dung dịch điện giải được sử dụng để pha loãng và tốc độ truyền thuốc. Có sự đồng ý bằng văn bản từ tất cả các bệnh nhân, họ hàng của họ, hoặc một người đại diện thích hợp. Việc ngẫu nhiên hoá được thực hiện với việc sử dụng một trình tự phân công do máy tính tạo ra. Một điều dưỡng đã đăng ký có trách nhiệm kiểm tra mã số ngẫu nhiên và truy cập vào phần mềm được bảo vệ bằng mật khẩu cho y lệnh. Điều dưỡng nhập vào cân nặng của bệnh nhân (bằng kg), tên viết tắt, số hồ sơ bệnh viện, và số hồ sơ. Sau khi chuẩn bị các lọ không xác định, toa thuốc đã in được lưu giữ trong một bao kín. Điều dưỡng không tham gia vào quá trình ra quyết định đối với các quy trình hoặc trong việc đánh giá lại bệnh nhân. Bác sỹ và đồng nghiệp tham gia có trách nhiệm thu thập ý kiến đồng ý, đánh giá lại bệnh nhân và quá trình ra quyết định về quy trình điều trị.

Các poster thể hiện lưu đồ của nghiên cứu và thông số dấu hiệu sinh tồn bình thường đã được đặt trong phòng cấp cứu và PICU. Đào tạo liên tục cho nội trú, điều dưỡng, và bác sĩ đã được cung cấp trong suốt thời gian nghiên cứu.

Trẻ em từ 1 đến 15 tuổi và đáp ứng được các tiêu chuẩn lâm sàng cho sốc nhiễm trùng không đáp ứng với dịch truyền (4) đã được ghi danh vào nghiên cứu sau khi được kiểm tra các tiêu chuẩn đủ điều kiện. Bệnh nhân đã được loại trừ nếu họ đã được nhận thuốc vận mạch trước khi nhập viện, đã biết bệnh tim, đã tham gia thử nghiệm trong cùng một thời gian ở bệnh viện, từ chối tham gia, hoặc có y lệnh không cần hồi sức.

Các định nghĩa

Chúng tôi đã thông qua các khuyến cáo của American College of Critical Care Medicine/Pediatric Advanced Life Support để xác định nhiễm trùng huyết nặng (nhiễm trùng huyết với các dấu hiệu giảm tưới máu) (4,5). Dấu hiệu lâm sàng của giảm tưới máu bao gồm nhịp tim bất thường (HR) theo tuổi, tình trạng tinh thần thay đổi/giảm, thời gian đổ đầy mao mạch (CRT) (> 2 giây hoặc nhấp nháy), mạch ngoại biên nhẹ hoặc không không đắt được, lưu lượng nước tiểu dưới 1 mL/kg/giờ.

Sốc nhiễm trùng không đáp ứng dịch truyền được định nghĩa là sự tồn tại của các dấu hiệu lâm sàng của tưới máu kém mặc dù truyền dịch ít nhất 40 mL/kg dung dịch điện giải hoặc dung dịch keo. Đáp ứng với điều trị bao gồm tất cả những điều sau đây: nhịp tim bình thường theo tuổi, tình trạng tâm thần bình thường, huyết áp tâm thu hơn 5th percentile theo tuổi, CRT dưới 2 giây, mạch ngoại vi cảm giác rõ ràng không có sự khác biệt giữa mạch trung tâm và ngoại biên, chi ấm, và lưu lượng nước tiểu trên 1 mL/kg/giờ. Khi một catheter trung tâm đã được đặt đúng, chúng tôi cũng nhắm mục tiêu độ bão hòa oxy tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) cao hơn 70% và huyết áp trung bình (MAP) trừ áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) theo tuổi (4,5). Giai đoạn hồi sức được định nghĩa là khoảng thời gian mà liều thuốc vận mạch được tăng lên hoặc trẻ được cho một liều lượng 20 ml/kg các dung dịch điện giải hoặc dung dịch keo.

Chuẩn bị thuốc

Phần mềm điều chỉnh thể tích của một trong hai loại thuốc bằng cách sử dụng trọng lượng của bệnh nhân bằng kg và liều khởi đầu mong muốn, là 5 μg/kg/phút đối với dopamine và 0,1 μg/kg/phút đối với epinephrine. Thể tích dung dịch điện giải được tính để duy trì nồng độ tối đa 4 μg/ml đối với epinephrine và 1,600 μg/ml đối với dopamine. Các bác sĩ đã nhận thức được tốc độ dòng chảy. Tốc độ dòng đầu tiên tương ứng với 5 μg/kg/phút đối với dopamine và 0.1 μg/kg/phút đối với epinephrine (liều X). Tốc độ dòng thứ hai tương ứng với 7,5 μg/kg/phút đối với dopamine và 0,2 μg/kg/phút đối với epinephrine (liều Y). Tốc độ dòng thứ ba tương ứng là 10 μg/kg/phút đối với dopamine và 0,3 μg/kg/phút đối với epinephrine (liều Z). Tăng liều xảy ra trong khoảng 20 phút. Chúng tôi đã sử dụng bơm tiêm truyền và các bộ truyền tĩnh mạch được bảo vệ với ánh sáng cho cả hai nhóm. Các dung dịch đã được thay đổi mỗi 24 giờ để đảm bảo sự ổn định ở nhiệt độ phòng.

Dữ liệu lâm sàng và phòng thí nghiệm

Việc thu thập dữ liệu lâm sàng cho tất cả các bệnh nhân xảy ra ở đường cơ bản, sau mỗi lần bolus dịch, và trước khi ngẫu nhiên hóa. Sau khi ngẫu nhiên, mỗi bệnh nhân được đánh giá lại trong khoảng 20 phút cho đến khi đạt được các tiêu chuẩn xác định ở trên để điều trị, sau đó mỗi 6 giờ, và sau đó cứ 6 giờ một lần cho đến ít nhất 72 giờ kể từ khi bắt đầu điều trị hoặc cho đến khi ngừng thuốc vận mạch. Các dữ liệu lâm sàng bao gồm nhịp tim (HR), huyết áp (BP), chỉ số shock (SI = HR/SBP), nước tiểu (UO), CRT, độ bão hòa ôxy động mạch (SpO2), MAP-CVP, và ScvO2 cho những người có catheter tĩnh mạch trung tâm. Dữ liệu lâm sàng (HR, SBP, SI, và MAP-CVP) được so sánh ở thời điểm đầu, trước khi phân ngẫu nhiên, vào 6 giờ sau khi ngẫu nhiên hoá, và vào cuối hồi sức. Kiểu lâm sàng của bệnh nhân trong quá trình sử dụng thuốc nghiên cứu được mô tả như là sốc lạnh hoặc sốc ấm, được định nghĩa như sau: sốc lạnh biểu hiện đầu chi lạnh, ẩm và/hoặc tím đầu chi, CRT > 2 giây, mạch ngoại vi yếu và khó bắt, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim chậm theo độ tuổi, và độ chênh huyết áp hẹp; và sốc ấm biểu hiện đầu chi ấm hồng, CRT < 2 giây, mạch ngoại biên dội, nhịp tim nhanh theo tuổi, và độ chênh huyết áp rộng. Dữ liệu phòng thí nghiệm được thu thập ở thời điểm bắt đầu và sau 6, 12, 24, và 48 giờ và vào cuối hồi sức (nếu khác với tiền sử) và lactate huyết thanh (mmol/L), troponin (ng/mL) và D-dimer (ng/mL).

Nghiên cứu can thiệp

Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để nhận dopamine hoặc epinephrine thông qua một catheter ngoại biên hoặc tiêm truyền tủy xương (EZ-IO, Vidacare, San Antonio, TX) nếu các dấu hiệu lâm sàng không hiệu quả đã không cải thiện sau khi truyền 40 mL/kg dung dịch điện giải (Hình 1).

Sau khi ngẫu nhiên hóa, bệnh nhân được bolus 20 ml/kg dung dịch điện giải hoặc dung dịch keo cùng với liều khởi đầu là 5 μg/kg/phút dopamin hoặc 0,1 μg/kg/phút epinephrine (liều X) thông qua một catheter TM ngoại biên hoặc tiêm tủy xương. Nếu không có đáp ứng với liều ban đầu, hai lần tăng liều của thuốc vận mạch đã được cho phép và thực hiện bằng cách tăng tốc độ truyền (lần lượt Y và Z). Không đáp ứng với liều thuốc nghiên cứu cao nhất có thể, việc lựa chọn thuốc vận mạch đã được tùy ý theo ý của bác sỹ. Loại và liều thuốc đã được bắt đầu trong nghiên cứu dần dần giảm đi cho đến khi ngừng thuốc.

Hình 1
Hình 1

Kết quả nghiên cứu

Kết quả chính là tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào sau 28 ngày kể từ ngày nhập viện. Kết cục thứ phát là HAI, nhu cầu các thuốc vận mạch khác và điểm rối loạn chức năng cơ quan (11). HAI được định nghĩa theo các Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh của Hoa Kỳ (12) và bao gồm nhiễm trùng máu do catheter, nhiễm trùng đường niệu liên quan đến catheter, viêm phổi liên quan đến thở máy, nhiễm trùng phẫu thuật và viêm phổi bệnh viện. Sự cần thiết phải dùng một thuốc vận mạch khác được phân tích là “có” hoặc “không” và chúng tôi tính toán lượng thuốc vận mạch được sử dụng bằng cách tính toán điểm thuốc vận mạch – tăng sức co bóp cơ tim (VIS, vasopressor inotropic score) trong vòng 48 giờ đầu tiên (VIS 24 giờ và VIS 48 hr) (13). Chúng tôi đã sử dụng điểm số PELOD (PELOD) trong năm ngày đầu tiên của bệnh viện để phân tích sự khác nhau về rối loạn chức năng của cơ quan giữa các nhóm.

Tác dụng phụ

Các tác dụng bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong quá trình truyền thuốc và được phân loại là tác dụng bất lợi tim, thiếu máu cục bộ hoặc tác dụng bất lợi khác. Các sự kiện tim mạch được định nghĩa là rối loạn nhịp (nhịp tim nhanh). Tachyarhythmia được định nghĩa là HR cao bất thường theo tuổi (4,5) và có thể bao gồm rung nhĩ, flutter nhĩ, nhịp nhanh trên thất, hoặc nhịp nhanh thất. Chúng tôi chỉ phân tích những sự kiện thiếu máu phát sinh từ sự thoát mạch thuốc. Các sự kiện khác được theo dõi là không dung nạp thức ăn, nồng độ glucose trong máu và tăng nồng độ lactate huyết thanh liên tục. Việc không dung nạp thức ăn đã được định nghĩa như sau: tăng khối lượng dịch dạ dày (trên 50% thể tích bơm vào ở 3 giờ trước), đau bụng, nôn mửa, thay đổi tính chất phân, nhịn ăn hơn 72 giờ, hoặc cần bổ sung dinh dưỡng đường tĩnh mạch. Mức đường trong máu được theo dõi 6 giờ một lần trong 72 giờ đầu của chu kỳ PICU. Tăng đường huyết được định nghĩa là mức đường trong máu trên 126 mg/dL, và tăng đường huyết nặng được định nghĩa là mức đường trong máu trên 200 mg/dL bất cứ lúc nào trong 72 giờ đầu. Lactat huyết thanh được thu thập với mục tiêu kiểm soát các tác dụng phụ, chứ không phải là mục tiêu hồi sức. Các giá trị bình thường dao động từ 0,33 đến 1,46 mmol/L, sử dụng phương pháp đo lường tự động lactate oxidase. Nếu bất kỳ giá trị nào vượt quá giới hạn cao hơn sau 24 giờ đầu điều trị, chúng tôi đã phân loại nó như là một phản ứng bất lợi nếu bệnh nhân đã được hồi phục.

Phân tích thống kê

Chúng tôi xác định rằng một mẫu 152 bệnh nhân sẽ cung cấp nghiên cứu với 80% power để phát hiện giảm tử vong 15% tuyệt đối ở 28 ngày, dựa trên tỷ lệ tử vong cơ bản ước tính là 25% đối với nhóm chứng (nhóm dopamine), với giá trị α một chiều dưới 0,05 cho thấy ý nghĩa thống kê. Để đảm bảo an toàn, chúng tôi tăng kích thước mẫu lên 180 bệnh nhân với hai phân tích tạm thời cho kết cục chính sau khi ghi nhận 60 và 120 bệnh nhân. Phân tích đầu tiên xác định tăng tỷ lệ tử vong không đáng kể giữa các nhóm A và B (22,6% x 6,9%, p = 0,15). Protocol đã được dừng lại với 120 bệnh nhân vì sự khác biệt về tỷ lệ tử vong. Có 17 người chết (14,2%): 13 (20,6%) ở nhóm dopamine và 4 (7%) ở nhóm epinephrine (p = 0,033).

Tất cả các phân tích được tiến hành trên cơ sở ý định để điều trị và được thực hiện bởi hai nhà thống kê độc lập không phải là thành viên của nhóm nghiên cứu và trước khi mã ngẫu nhiên bị phá vỡ. Các biến định lượng được biểu diễn dưới dạng trung bình (± SD) và được so sánh bằng thử nghiệm Mann-Whitney hoặc Student t-test. Các biến định tính được biểu diễn dưới dạng các tần suất tuyệt đối và tương đối và được kiểm tra với kiểm tra chi-square, Fisher chính xác, hoặc kiểm tra tỷ số khả năng, nếu thích hợp.

Các biện pháp kết hợp với nguy cơ tử vong ở 28 ngày, nhu cầu các thuốc vận mạch khác, và tỷ lệ HAI (theo phần trăm) được thu được bằng tỷ lệ chênh lệch và 95% CI tương ứng trong mô hình hồi quy logistic đơn giản. Các mô hình tuyến tính đa lượng được ước lượng cho mỗi kết quả, và chúng tôi bao gồm các biến thể cho thấy các mức có ý nghĩa nhỏ hơn 0.20 trong các phép thử hai biến. Thời gian chết được tính toán sử dụng hàm Kaplan-Meier, và sự so sánh giữa các nhóm được thực hiện với bài kiểm tra log-rank. Do phân bố không cân đối của PELOD có nghĩa là trong năm năm đầu tiên PICU đã sử dụng các mô hình tuyến tính tổng quát để so sánh các giá trị giữa các loại biến chất lượng và để tính toán hệ số Spearman cho các biến giải thích định lượng. Một mô hình tuyến tính đa biến đã được phát triển cho PELOD trung bình trong năm năm PICU đầu tiên bằng cách sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát với các biến trong các phép thử bivariate cho thấy các mức độ có ý nghĩa nhỏ hơn 0,20. Mức độ quan trọng được định nghĩa là giá trị p nhỏ hơn 0.05. Tất cả các phân tích được thực hiện với việc sử dụng phần mềm SPSS, phiên bản 20.0 (SPSS Statistics for Windows, V20, Chicago, IL) và PASS 13 (phân tích nguồn và phần mềm kích cỡ mẫu) (NCSS, Kaysville, UT).

CÁC KẾT QUẢ

Trong 4,5 năm (từ ngày 1 tháng 2 năm 2009 đến ngày 31 tháng 7 năm 2013), đã có 1.648 trường hợp nhập viện tại PICU của Bệnh viện Universitário, và 357 bệnh nhân nhận được hồi sức dịch vì nhiễm trùng huyết với dấu hiệu hạ huyết áp (nhiễm trùng huyết nặng = 21,7%). Tổng cộng có 217 bệnh nhân được cải thiện với hồi sức dịch truyền; do đó, 140 bệnh nhân được phân loại là có sốc nhiễm trùng không đáp ứng dịch truyền. Tiêu chuẩn loại trừ đã có ở 16 bệnh nhân. Ba sai lệch protocol xảy ra, và một bệnh nhân ngưng thoả thuận, để cuối cùng dân số nghiên cứu bao gồm 120 bệnh nhân (Hình 2).

Hình 2
Hình 2

Ở thời điểm ban đầu, bệnh nhân tương tự nhau theo độ tuổi (p = 0.145), nam giới (p = 0.516), tình trạng dinh dưỡng (p = 0,142), mức độ nghiêm trọng của bệnh (Pediatric Risk of Mortality II và PELOD: p = 0.527 and 0.582), có bệnh nền (p = 0.955), nguồn nhiễm trùng (p = 0,788), và nguyên nhân (p = 0,735) (Bảng 1). Quá trình nghiên cứu lâm sàng của bệnh nhân tương tự nhau, với 88,3% và 70,2% ở nhóm dopamine và epinephrine có sốc lạnh (p = 0,818).

Bảng 1
Bảng 1

Các can thiệp điều trị cũng tương tự nhau đối với cả hai nhóm (Bảng 2). Dịch truyền dùng để hồi sức chủ yếu là dung dịch điện giải (dung dịch nước muối sinh lý ở tất cả các bệnh nhân trong giờ đầu tiên); 5% albumin chiếm 22,4 và 20,5 ml/kg khối lượng nhận được trong 6 giờ đầu tiên ở nhóm dopamine và epinephrine. Các Hồng cầu lắng được thực hiện ở 2 trẻ ở nhóm dopamine (3,2%) và 3 trẻ ở nhóm epinephrine trước khi ngẫu nhiên hóa (5,3%) (p = 0,567).

Tất cả trẻ em đều được điều trị kháng sinh trong 6 giờ đầu và đa số được dùng kháng sinh trong giờ đầu tiên điều trị ở cả hai nhóm. Trẻ ở nhóm dopamine có thời gian hồi sức dài hơn đáng kể (p = 0.024), và tỷ lệ cao hơn trong nhóm này đòi hỏi phải điều trị thay thế thận so với nhóm epinephrine (p = 0.001).

Bảng 2
Bảng 2
Bảng 3
Bảng 3

Bảng 3 so sánh việc sử dụng thuốc vận mạch theo nhóm nghiên cứu. Chúng tôi quan sát thấy thời gian sử dụng dopamine là ngắn hơn đáng kể (p = 0.003); một nửa số trẻ ở nhóm dopamine cần các thuốc vận mạch khác (không có ý nghĩa) và đã có ít ngày không dùng thuốc vận mạch hơn (p = 0.028). Điểm VIS tương đồng giữa các nhóm trong 24 đến 48 giờ đầu tiên. Không có trẻ nào thuộc nhóm dopamine đã tiếp tục nhận dopamine sau khi được coi là không đáp ứng với thuốc nghiên cứu. Mặt khác, epinephrine được chọn là thuốc duy nhất hoặc một trong các thuốc vận mạch ở 36,5% bệnh nhân nhóm dopamine và 33,3% bệnh nhân ở nhóm epinephrine được coi là không đáp ứng với thuốc nghiên cứu.

Bệnh nhân nhóm dopamine có nhịp tim cao hơn đáng kể ở thời điểm ban đầu và trước khi phân nhóm ngẫu nhiên. Bệnh nhân nhóm epinephrine có SBP và MAP-CVP cao hơn vào 6 giờ sau khi ngẫu nhiên hóa và sau khi hồi sức. SI ở nhóm epinephrine cao hơn ở 6 giờ sau khi ngẫu nhiên hóa. ScvO2 luôn giống nhau giữa các nhóm (Bảng 4).