Thoái hóa khớp: Nguyên nhân, triệu chứng & các phương pháp điều trị

Thoái hóa khớp
Hình ảnh minh họa: Thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp nói chung là bệnh thường gặp, đặc biệt là ở những người lớn tuổi. Thoái hóa khớp thường đi liền với quá trình lão hóa của các tổ chức mô sụn và xương dưới sụn, gây ra những tổn hại lớn trong vận động cho con người, và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong ở những người lớn tuổi. Hiểu biết về căn bệnh này cũng là một biện pháp giảm thiểu nguy cơ mắc thoái hóa khớp, sau đây Heal Central xin cung cấp những hiểu biết xoay quanh bệnh thoái hóa khớp.

Thoái hóa khớp là bệnh gì?

Thoái hóa khớp là bệnh gì?
Ảnh: Thoái hóa khớp là bệnh gì?

Thoái hóa khớp, hay còn gọi là viêm xương khớp do thoái hóa, là căn bệnh liên quan trực tiếp đến khớp. Khớp là nơi gặp gỡ của 2 đầu xương với nhau. Xương cứng và không cử động nên xương chỉ là giá đỡ cho toàn bộ cơ thể, do vậy cần có khớp để tạo ra vận động linh hoạt cho con người. Khớp cấu tạo gồm sụn khớp và bao khớp, trong đó:

Sụn khớp là lớp mô bao phủ ngay trên mỗi đầu xương, sụn tương đối cứng, bền nhưng lại đảm bảo độ đàn hồi nhất định, tạo thành từ 2 thành phần cơ bản là tế bào sụn và chất căn bản. Không giống như các tế bào thông thường, tế bào sụn có thể tự sửa chữa đến một mức độ nhất định trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên nếu quá trình hao mòn diễn ra quá nhanh, lớp sụn sẽ trở nên mỏng hơn và cứng hơn theo thời gian, đồng thời chúng chỉ hấp thu được lượng dinh dưỡng nghèo nàn thông qua lớp xương dưới sụn mà không hề có hệ thống mạch máu nuôi dưỡng hay các đầu dây thần kinh tại đây. Vì vậy tế bào sụn có nguy cơ tổn thương cao hơn các tế bào khác của cơ thể. Chúng có thể bị thoái hóa dần theo độ tuổi và diễn ra một cách thầm lặng nên người bệnh không thể điều trị sớm. Không chỉ thế, chất căn bản chứa thành phần chủ yếu là collagen typ 2 cũng bị xơ hóa theo thời gian làm tổn thương đến cấu trúc của khớp, dẫn đến thoái hóa khớp.

Bao khớp: hay còn gọi là màng hoạt dịch. Bởi bao khớp chính là màng bao căn bản quanh khớp, lớp trong bao khớp là màng hoạt dịch chịu trách nhiệm tiết ra lượng dịch nhầy sạch, vô khuẩn để nuôi dưỡng và bôi trơn khớp, giúp khớp cử động nhẹ nhàng và êm ái.

Thoái hóa khớp đặc trưng bởi tình trạng hư tổn tại các mô sụn tại khớp, là hậu quả của sự mất cân bằng giữa quá trình hủy hoại và quá trình tổng hợp mô sụn tại khớp và phần xương dưới sụn kèm theo giảm dịch nhầy tiết ra từ bao khớp khiến 2 đầu sụn thường xuyên phải cọ xát vào nhau hơn. Lâu ngày lớp sụn bị hao mòn không thể bao phủ hết đầu xương tạo điều kiện cho 2 đầu xương tiếp xúc với nhau gây ra cứng khớp, biến dạng khớp, mất khả năng vận động.

Thoái hóa khớp thường liên quan đến quá trình cơ học và sinh hóa. Vùng khớp thường xuyên phải chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể sẽ có biểu hiện thoái hóa sớm hơn và nhiều hơn. Trong đó 80% trong các trường hợp thoái hóa là thoái hóa khớp gối.

Xem thêm: THUỐC BỔ XƯƠNG KHỚP CỦA MỸ, ÚC, NHẬT TỐT NHẤT HIỆN NAY [BÁC SĨ KHUYÊN DÙNG]

Các giai đoạn trong thoái hóa khớp

Các giai đoạn của thoái hóa khớp
Các giai đoạn của thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp nói chung đều trải qua 4 giai đoạn bệnh như sau:

  • Giai đoạn 1: triệu chứng không rõ ràng, không có giới hạn về các hoạt động. Sụn khớp giai đoạn này bắt đầu bị ảnh hưởng bắt đầu từ khớp gối tuy nhiên vẫn duy trì hoạt động trơn tru cho khớp. Ở giai đoạn này, người bệnh không hề có triệu chứng đau nhức cục bộ và cơ học tại khớp, cũng không có dấu hiệu viêm khớp, thi thoảng có dấu hiệu cứng khớp không kéo dài vào buổi sáng khi thức dậy. Một số khi hoạt động gắng sức, bê vác vật nặng hoặc đi lại trái chân có thể nghe thấy tiếng lục khục tại khớp và hơi đau tại vùng khớp.
  • Giai đoạn 2: triệu chứng bắt đầu xuất hiện ở mức độ nhẹ. Lúc này người bệnh đã có thể cảm nhận rõ những cơn đau khớp xuất hiện khi vận động quá sức, đi lại nhiều, leo cầu thang, leo dốc. Cơn đau có thể tiến triển cùng với viêm khớp thành 1 đợt trong vài ngày và hết dần. Khi nghỉ ngơi, cơn đau có thể bị đẩy lui nhanh chóng. Lúc này, sụn khớp đã bị những tổn thương nhiều hơn, xuất hiện gai xương nên những gai xương này cọ xát vào vùng mô khớp và quanh khớp gây ra đau. Bao khớp và màng hoạt dịch vẫn đủ khả năng cung cấp dịch khớp đầy đủ để nuôi dưỡng, bôi trơn khớp, duy trì hoạt động khớp. Phát hiện hẹp khe khớp nhẹ, gai xương khi chụp X quang.
  • Giai đoạn 3: tổn thương khớp nặng hơn. Người bệnh cảm thấy rất đau khi đi lại, vận động nhẹ hoặc leo cầu thang, leo dốc, không thể bê các vật nặng. Cơn đau khớp kèm viêm do thoái hóa diễn ra dài hơn và dày hơn báo hiệu tổn thương khớp nặng. Màng hoạt dịch viêm tăng tiết dịch khớp dẫn đến khớp sưng tấy, nóng đỏ và đau đớn. Trên X quang, hình ảnh hẹp khe khớp rõ rệt, các gai xương phát triển và nhiều gai xương, đâm vào mô khớp, sụn suy giảm mật độ tế bào và xơ hóa, mất tính cứng và bền dai, bào mòn nhiều làm cho sụn mỏng đi. Xương dưới sụn đặc hơn và biến dạng. Lúc này khớp có thể đã bị biến dạng.
  • Giai đoạn 4: triệu chứng đau nhức, không thể đi lại, cứng khớp, dính khớp và biến dạng khớp. Sụn khớp giai đoạn này đã bị bào mòn khoảng 60% đến 70%, tạo điều kiện cho hai đầu xương tiếp xúc trực tiếp với nhau. Bao khớp giảm nghiêm trọng khả năng tiết dịch khớp gây ra khô khớp. Màng hoạt dịch hoạt động quá mức dẫn đến viêm thường xuyên mang theo các yếu tố phá hủy biểu mô khớp và màng hoạt dịch. Khe khớp không có sự giúp đỡ của sụn khớp và dịch khớp nên hẹp lại. Trong giai đoạn này, thậm chí xảy ra dính khớp khiến người bệnh không thể vận động, co duỗi chân, mà rất đau đớn.

Xem thêm: Thuốc Xương Khớp Nhất Nhất có tác dụng gì, có tốt không, giá bán?

Nguyên nhân gây thoái hóa khớp

Nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp
Nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp có thể được chia thành 2 loại:

Thoái hóa khớp nguyên phát: là loại thường gặp hơn cả và liên quan nhiều đến những yếu tố như tuổi, giới tính, nội tiết và chuyển hóa.

  • Tuổi: thường xảy ra ở độ tuổi sau 40
  • Giới tính: nữ giới có tỉ lệ các bệnh về xương khớp cao hơn nam giới (60%)
  • Nội tiết: khi lớn tuổi, hormone sinh dục hay còn gọi là nội tiết tố suy giảm, quá trình mãn dục ở nam và mãn kinh ở nữ diễn ra kéo theo nhiều rối loạn sinh lí bên trong cơ thể, trong đó điển hình là các bệnh xương khớp, lão hóa và thoái hóa khớp.
  • Chuyển hóa: các quá trình chuyển hóa diễn ra trong cơ thể đều ảnh hưởng đến nồng độ canxi huyết. Khi rối loạn chuyển hóa, sẽ gián tiếp ảnh hưởng lên lượng canxi trong xương khớp và hậu quả cuối cùng và thoái hóa khớp và loãng xương. Một số bênh chuyển hóa như béo phì, tiểu đường cũng làm gia tăng trọng lượng cơ thể, tăng áp lực lên các khớp nâng đỡ trọng lượng toàn cơ thể, đẩy nhanh quá trình “hỏng” khớp.

Thoái hóa khớp thứ phát: là loại bệnh gặp ở nhiều lứa tuổi, ít phụ thuộc vào độ tuổi. Bệnh thường liên quan đến yếu tố gia đình, di truyền, béo phì, giới tính, nghề nghiệp, vận động, có tiền sử chấn thương khớp hoặc phẫu thuật.

  • Béo phì: là yếu tố nguy cơ có thể phòng ngừa quan trọng nhất đối với thoái hóa khớp. Béo phì làm gia tăng trọng lượng lên các khớp xương, đặc biệt là ở khớp gối. Trải qua nhiều năm nâng đỡ trọng lượng quá tải, các mô khớp sẽ dần trở nên xơ cứng, hao mòn.
  • Nghề nghiệp: khi bê vác đồ vật có trọng lượng lớn thường xuyên và lâu dài cũng làm tăng đáng kể nguy cơ tổn thương khớp.
  • Chấn thương: chấn thương gây ra tổn hại trực tiếp đến hệ thống xương sụn, đẩy mạnh quá trình hao mòn sụn dẫn đến thoái hóa khớp sớm hơn bình thường.
  • Độ tuổi: tuổi tác là căn nguyên hàng đầu của quá trình lão hóa. Tuổi càng cao, sự mất cân bằng giữa yếu tố “xây dựng” và “phá hủy” ngày càng lớn, làm cho mọi tế bào trở nên dễ tổn thương hơn. Trong đó sụn khớp và xương là 2 bộ phận rất nhạy cảm với quá trình lão hóa, làm giảm nghiêm trọng đến khối lượng và chất lượng xương sụn.
  • Nội tiết: hormone giới tính có vai trò quan trọng trong điều hòa cấu trúc và chức năng của mô sụn tại khớp. Tuổi càng lớn, nội tiết tố càng dễ rối loạn và thay đổi, khiến cho mô sụn không còn được nuôi dưỡng đầy đủ như trước. Đây là nguyên nhân hàng đầu của các bệnh về xương khớp ở phái nữ.
  • Di truyền: bất thường cấu trúc khớp gối bẩm sinh, hoặc một số bệnh tự miễn có vai trò quan trọng của di truyền như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp,… đều gây ra tổn thương mạn tính cho khớp xương và cuối cùng gây ra thoái hóa khớp.

Xem thêm: [Vạch trần] Viên khớp Đại Việt có thực sự hiệu quả không? Giá bao nhiêu

Các loại thoái hóa khớp và triệu chứng thường gặp

Thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối thường bắt đầu từ các triệu chứng nhẹ ít được nhận biết như đau đầu gối khi tăng áp lực lên khớp. Ban đầu, người bệnh thường có tiếng lục cục ở khớp gối nhưng khi đó chưa có triệu chứng đau và cũng không có tình trạng giới hạn vận động. Theo thời gian, thoái hóa khớp gối sẽ mở màn bằng việc sưng đỏ ở 1 khớp và rất đau, mức độ đau sẽ tăng lên và thường xuyên hơn, thậm chí có thể cảm thấy đau ngay cả khi nghỉ ngơi hoặc đau tăng lên vào ban đêm kèm theo mất ngủ do đau. Ở giai đoạn sớm, cơn đau do thoái hóa khớp gối chỉ diễn ra trong vài ngày rồi biến mất.

Dấu hiệu đặc trưng của thoái hóa khớp gối
Dấu hiệu đặc trưng của thoái hóa khớp gối

Tuy nhiên nếu để cho tình trạng thoái hóa tăng lên có thể dẫn đến cứng khớp, biến dạng khớp, mất khả năng vận động. Một số triệu chứng khác như cứng khớp, viêm khớp trong một thời gian với biểu hiện sưng tấy, nóng đỏ tại khớp rồi hết trong vòng vài ngày.

Xem thêm: Viêm khớp gối: Dấu hiệu nhận biết, triệu chứng & các phương pháp điều trị

Thoái hóa đốt sống cổ

Có thể có biểu hiện đa dạng, nhưng nằm trong 4 hội chứng sau:

  • Đốt sống cổ: thường đau đôi khi có cứng cơ cạnh cột sống cổ, cảm giác đau tăng lên khi giữ cổ ở tư thế thẳng, cúi đầu kéo dài, hoặc khi có mệt mỏi, căng thẳng, trái gió trở trời,… Vận động đốt sống cổ khó khăn.
  • Rễ thần kinh tại đốt sống cổ: có thể đau tại cổ, thậm chí đau lan xuống cổ tay cùng bên cổ đau. Ngoài ra còn đau ở vùng vai gáy. Đau nhức nhối, đau như kiến bò sâu trong xương, đau từ cổ lan xuống dọc theo cánh tay, đau lan rộng ra các ngón tay. Đau tăng khi có tác động đến vị trí đốt sống tổn thương như ngồi lâu, hắt hơi,… Thậm chí còn có cảm giác chóng mặt và hạn chế vận động, teo cơ ở vùng cánh tay cùng bên đốt sống cổ bị đau.
  • Động mạch đốt sống: đau nhức vùng đầu mặt, đôi khi cảm thấy chóng mặt, ù tai nhẹ do tình trạng hạ huyết áp.
  • Chèn ép tủy: dị cảm, có cảm giác đau nhói hoặc tê bì, đi lại khó khăn, khó giữ thăng bằng, tăng phản xạ gân xương, yếu cơ, liệt chi.

Ngoài ra còn có thay đổi về cảm xúc như dễ kích động, cáu gắt, trầm cảm, mất ngủ,…

Các biểu hiện trên có thể xuất hiện cùng lúc hoặc không tùy theo mức độ thoái hóa đốt sống cổ, vị trí thoái hóa.

Thoái hóa khớp háng

Khớp háng là 1 trong những khớp chịu lực nhiều nhất từ trọng lượng cơ thể, vậy nên khớp háng có nguy cơ thoái hóa cao hơn so với một số loại khớp khác. Thoái hóa khớp háng thường có các triệu chứng tương ứng với giai đoạn bệnh, bao gồm:

  • Giai đoạn đầu: có cảm giác đau từ vùng bẹn, đau lan xuống phía dưới, đau ra phía sau xung quanh khớp háng, đau tăng lên nếu cử động mạnh, kéo dài hoặc đứng lâu.
  • Giai đoạn giữa : đau tăng lên nhiều khi người bệnh di chuyển, khi ngủ không có cảm giác đau nhưng đau đột ngột trở lại mỗi khi cử động khi thức dậy, đau tăng lên về chiều tối.
  • Giai đoạn muộn: đau tăng cả về cường độ và tần suất, người bệnh có thể bị đau ngay cả lúc nghỉ ngơi, đau ngay cả khi ngủ, đau tăng lên khi thời tiết thay đổi.

Bệnh nhân thường xuyên gặp tình trạng đau mỏi tê cứng khi phải tác động lực vào khớp háng như khi đi lại, khi ngồi xổm, khi chuyển trạng thái từ ngồi sang đứng hoặc sang nằm. Cơn đau này có xu hướng giảm khi người bệnh nghỉ ngơi bởi khi nghỉ, khớp háng sẽ tránh được sự tiếp xúc giữa 2 đầu xương do chèn ép từ trọng lượng cơ thể.

Thoái hóa cột sống thắt lưng

Thoái hóa cột sống thắt lưng có thể gây chèn ép rễ thần kinh
Thoái hóa cột sống thắt lưng có thể gây chèn ép rễ thần kinh

Giai đoạn sớm: người bệnh có dấu hiệu cứng cột sống vào buổi sáng. Đau tăng lên khi thay đổi tư thế, vận động và giảm khi nghỉ ngơi kèm theo tiếng lục cục ở cột sống thắt lưng.

Giai đoạn nặng: đau ngay cả khi nghỉ ngơi, có thể kèm theo mất ngủ do đau.

Cơn đau cột sống thắt lưng thường chỉ khu trú tại chỗ, mang tính chất cơ học. Đôi khi cơn đau có thể gây ra do tình trạng chèn ép rễ dây thần kinh , tình trạng nặng có thể có biến dạng cột sống, gù lưng.

Thoái hóa bàn chân

Thoái hóa bàn chân hay còn gọi là thoái hóa khớp cổ chân. Khớp cổ chân có tỉ lệ thoái hóa ít hơn so với khớp gối và khớp háng. Triệu chứng thoái hóa không rõ rệt cho tới khi người bệnh cảm nhận được cơn đau nhói và đột ngột khi va đập, leo cầu thang, bê vật nặng, hay chỉ là ấn vào khớp cổ chân. Đau mang tính chất cơ học mà không âm ỉ kéo dài ở giai đoạn nhẹ. Đau đôi khi kèm theo phản ứng viêm với biểu hiện sưng nóng đỏ. Giai đoạn nặng, người bệnh thậm chí có tràn dịch khớp, teo cơ, biến dạng khớp, hạn chế nhiều vận động.

Thoái hóa khớp ngón tay, bàn tay

Khớp bàn tay và ngón tay là các vị trí thường xuyên cử động linh hoạt tuy nhiên ít chịu lực lớn tác động từ trọng lượng cơ thể nên nguy cơ thoái hóa thấp hơn các vị trí khớp còn lại. Triệu chứng thoái hóa khớp bàn ngón tay chủ yếu là đau và cứng khớp. Đau chỉ từ mức độ nhẹ đến trung bình, đau kéo dài không quá 30 phút. Đau hơn về buổi sáng và có thể kèm theo sưng nhẹ. Cứng khớp biểu hiện rõ rệt do bàn tay cần sự vận động linh hoạt nhưng các khớp lại không thể đáp ứng do tình trạng bào mòn mô sụn nên khớp không còn được trơn tru. Cứng khớp bàn ngón tay làm cho người bệnh cầm nắm không chắc, khó khăn trong việc thực hiện các công việc đơn giản hàng ngày như giặt giũ, nội trợ,…

Xem thêm: [Sự thật] Xương Khớp MH có lừa đảo không, Cách dùng, Giá bao nhiêu?

Phương pháp chuẩn đoán thoái hóa khớp

Nhìn chung, các loại khớp có thể có những phương phác chẩn đoán chung và mỗi loại lại có những tiêu chuẩn chẩn choán riêng biệt do vị trí giải phẫu, hình thù và kích thước của mỗi loại khớp là khác nhau.

Các phương pháp chẩn đoán thoái hóa khớp điển hình
Các phương pháp chẩn đoán thoái hóa khớp điển hình

Trên lâm sàng: dựa vào triệu chứng điển hình của thoái hóa khớp gối.

Chẩn đoán thoái hóa khớp gối

Chẩn đoán xác định dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán của hội thấp khớp học Hoa Kì 1991 (ACR 1991)

  1. X quang phát hiện có gai xương rìa khớp.
  2. Xét nghiệm dịch khớp là dịch thoái hoá.
  3. Bệnh nhân đau khớp tuổi trên 38.
  4. Xuất hiện triệu chứng cứng khớp nhưng không kéo dài, thường dưới 30 phút (phân biệt với viêm khớp dạng thấp).
  5. Cử động khớp thường nghe thấy tiếng lục cục.

Ngoài ra, một số bệnh nhân có biểu hiện rõ ràng và mức độ nặng như:

  • Sưng khớp, tràn dịch khớp do phản ứng viêm hoạt động làm tổn thương màng hoạt dịch
  • Khớp thay đổi hình thái, hình dạng bất thường do gai xương, gai khớp phát triển, hao mòn mô sụn, tràn dịch khớp,…

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh

X quang: có thể phát hiện được những tổn thương khớp thông qua hình ảnh trực tiếp của khớp. Tuy nhiên X quang không phải là biện pháp nhạy và đặc hiệu để phát hiện sớm thoái hóa khớp. Tùy theo mức độ tổn thương khớp phát hiện trên  X quang mà Kellgren và Lawrence đã chia bệnh thoái hóa khớp gối thành các giai đoạn khác nhau:

  • Giai đoạn 1: gai xương chưa thực sự rõ rệt, có thể phát hiện thấy hoặc không.
  • Giai đoạn 2: gai xương rõ nét trên hình ảnh X quang.
  • Giai đoạn 3: khe khớp hẹp mức độ vừa phải.
  • Giai đoạn 4: khe khớp hẹp nhiều, có thể có tổn thương mô xương dưới sụn.

Siêu âm khớp: nhằm phát hiện và đánh giá mức độ hẹp tại khe khớp, độ dày sụn khớp, hoặc các mảnh vỡ bong vào ổ khớp do sụn thoái hóa,…

Chụp cộng hưởng từ: phát hiện tất cả các tổn thương liên quan đến khớp bao gồm sụn khớp, màng hoạt dịch, dây chằng nhờ không gian 3 chiều.

Nội soi khớp: chủ yếu để chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác.

Chẩn đoán thoái hóa đốt sống cổ

Lâm sàng: cảm thấy đau ở vùng cổ phía sau kết hợp với các triệu chứng của 4 hội chứng điển hình.

Cận lâm sàng:

Phản ứng viêm: các bilan viêm thường ở mức bình thường, làm các bilan viêm chủ yếu để nhằm mục đích chẩn đoán phân biệt với các bệnh lí khác.

X quang cột sống cổ: cho hình ảnh tổng quát của đốt sống cổ, nhờ đó có thể phát hiện các dấu hiệu bất thường như thay đổi đường cong cột sống cổ, hẹp lỗ liên hợp, xuất hiện gai xương đốt sống cổ,…. Thoái hóa đốt sống cổ thường có biểu hiện của các triệu chứng thoái hóa trên X quang.

Chụp cộng hưởng từ cột sống cổ: có thể phát hiện và đánh giá tình trạng và vị trí chèn ép rễ thần kinh, hẹp ống sống, vị trí và mức độ thoát vị đĩa đệm,…

Chụp CT-scan: tương tự nhưng kém nhạy và đặc hiệu hơn chụp cộng hưởng từ, chỉ được sử dụng khi không có điều kiện chụp cộng hưởng từ.

Điện cơ: thường phát hiện và đánh giá những tổn thương liên quan trực tiếp đến thần kinh tại đốt sống cổ.

Chẩn đoán thoái hóa khớp háng

Lâm sàng: dựa trên các triệu chứng điển hình của bệnh thoái hóa khớp háng

Cận lâm sàng:

  • X quang:

Xuất hiện tình trạng hẹp khe khớp háng do bào mòn sụn khớp tại đây.

Hạn chế vận động tại khớp háng do xuất hiện một hoặc nhiều gai xương tại đây khiến người bệnh cảm thấy rất đau khi cử động khớp háng.

Tăng mật độ xương dưới sụn do chịu sự chèn ép lớn vì phải nâng đỡ trọng lượng của toàn bộ cơ thể.

Ngoài ra còn có thể có tình trạng bào mòn đầu xương, khuyết xương do phải thường xuyên cọ xát đầu xương vào nhau.

  • Chỉ định khác: chụp cộng hưởng từ khớp háng hoặc chụp CT- SCAN nếu cần thiết trong các trường hợp cụ thể.

Chẩn đoán thoái hóa cột sống thắt lưng

Lâm sàng: dựa vào các dấu hiệu đau tại cột sống thắt lưng có tính chất cơ học, đau khu trú tại chỗ.

Cận lâm sàng:

  • X quang là chẩn đoán hình ảnh thường quy để chẩn đoán thoái hóa cột sống thắt lưng. X quang nhằm phát hiện tình trạng hẹp khe đốt sống, hẹp đĩa đệm, gai đốt sống, đặc xương dưới sụn, hẹp lỗ liên hợp đốt sống.
  • Chụp cộng hưởng từ chỉ áp dụng trong trường hợp nghi ngờ có thoát vị đĩa đệm, chèn ép rễ dây thần kinh.

Thoái hóa cột sống thắt lưng thường đi kèm với tuổi cao, nên không xảy ra đơn độc mà thường phối hợp với các bệnh về thoái hóa xương khác như loãng xương, lún xẹp đốt sống do loãng xương.

Chẩn đoán thoái hóa bàn chân

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng như đau, sưng tấy khớp cổ chân, đi lại khó khăn.

X quang: nhằm phát hiện hẹp khe khớp, bào mòn đầu xương, tăng mật độ xương dưới sụn, gai xương, biến dạng khớp.

Chẩn đoán thoái hóa khớp ngón tay, bàn tay

Lâm sàng: sưng đau các khớp ngón tay, cứng khớp dưới 30 phút, vận động ngón tay khó khăn, khó cầm nắm.

Cận lâm sàng:

  • X quang: hẹp khe khớp, gai xương, đặc xương dưới sụn.
  • Làm thêm một số xét nghiệm yếu tố viêm, yếu tố dạng thấp để chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác.

Cách điều trị thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp không thể điều trị dứt điểm, các phương pháp điều trị chủ yếu làm chậm tiến triển của bệnh, giảm quá trình thoái hóa khớp, kết hợp giảm các triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Để điều trị thoái hóa khớp, có các biện pháp điều trị:

Điều trị nội khoa

Điều trị cho từng bệnh nhân thoái hóa khớp phụ thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng thoái hóa, tình trạng bệnh mắc kèm, các thuốc dùng kèm và tiền sử dị ứng. Điều trị cho các bệnh lí thoái hóa khớp nên được bắt đầu từ việc sử dụng thuốc kết hợp với giáo dục cho từng cá nhân mắc bệnh.

Điều trị dùng thuốc

Điều trị thoái hóa khớp bằng thuốc
Minh họa: Điều trị thoái hóa khớp bằng thuốc

Mục tiêu chính việc điều trị bằng thuốc là làm giảm đau cho người bệnh. Các thuốc thường hay được sử dụng là các thuốc giảm đau quen thuộc từ ngoại vi đến trung ương như Paracetamol, NSAIDS, Corticoid, Tramadol, Codein,… Tuy nhiên những loại thuốc này chỉ làm giảm triệu chứng bệnh mà không làm chậm tiến triển bệnh.

Bên cạnh các loại thuốc hóa dược trên, hay còn gọi là thuốc Tây, thì thuốc Nam cũng rất được ưa chuộng để điều trị các bệnh về xương khớp trong đó có thoái hóa khớp. Một số vị thuốc đông y hay được sử dụng như Địa liền, Bạch chỉ, Đương quy,…. Không chỉ làm giảm đau mà còn tái tạo sụn khớp hiệu quả. Bên cạnh đó, một số thực phẩm bổ sung canxi, collagen typ 2 cũng được ứng dụng rất nhiều để điều trị thoái hóa.

Biện pháp điều trị không dùng thuốc

Đã được chứng minh là làm chậm sự tiến triển của thoái hóa khớp. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc chủ yếu bao gồm:

  • Giảm cân nếu thừa cân: đối với người thừa cân, có trọng lượng cơ thể nặng hơn mức bình thường, điều này làm gia tăng áp lực lên các khớp, đặc biệt là các khớp háng, khớp gối và khớp cổ chân. Khi các khớp này xảy ra thoái hóa, việc giảm tác động và áp lực lên các khớp này là cần thiết. Một trong những biện pháp hữu hiệu làm giảm tiến triển thoái hóa là giảm cân, duy trì được mức cân nặng vừa phải và ổn định. Bệnh nhân có viêm xương khớp do thoái hóa sẽ thường xuyên phải chịu cơn đau, khi giảm được 10% cân nặng, giúp giảm đau đáng kể tại khớp.
  • Duy trì chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, bổ sung đầy đủ vitamin D, canxi và các loại khoáng chất. Hạn chế uống rượu bia, tránh hút thuốc lá.
  • Khi đã có thoái hóa khớp, bệnh nhân cần phải được nghỉ ngơi và luyện tập đúng cách để tránh tình trạng teo cơ, yếu cơ, duy trì khả năng vận động.
  • Luyện tập: các bài tập có thể cải thiện chức năng khớp, giảm tỉ lệ tàn tật, giảm đau và giảm sử dụng thuốc giảm đau ở những bệnh nhân thoái hóa khớp. Với mỗi loại bệnh thoái hóa khớp khác nhau, các phương pháp luyện tập cũng khác nhau. Người bệnh