Bệnh trầm cảm ở phụ nữ: Nguyên nhân, Dấu hiệu, Cách chữa trị

Bệnh trầm cảm ở phụ nữ
Bệnh trầm cảm ở phụ nữ

Tổng quan về bệnh trầm cảm

Trầm cảm là tình trạng biểu hiện của sự rối loạn tâm trạng có khả năng tiến triển và nguy hiểm. Hiện tượng này kích thích đến tâm trạng người bệnh gây mất phương hướng, có cảm giác buồn bã, tự ti về khả năng của bản thân và thiếu đi động lực sống. Các triệu chứng của bệnh biểu hiện tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, những triệu chứng có thể gặp ở người mắc bệnh trầm cảm như chán ăn, mệt mỏi, lãnh đạm, khó ngủ và bệnh còn có thể tiến triển nặng hơn nữa.

Những triệu chứng của bệnh trầm cảm
Những triệu chứng của bệnh trầm cảm

Những triệu chứng này có thể gây ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, làm việc, ngủ và tận hưởng cuộc sống. Nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm vẫn còn đang được nghiên cứu. Tuy nhiên những kết quả mới đây đã chỉ ra rặng trầm cảm có sự phối hợp của các yếu tố sinh học, di truyền, tâm lý và cả môi trường sống. Đa số các trường hợp mắc bệnh trầm cảm cần được điều trị để cải thiện tâm trạng, giúp bệnh nhân cảm thấy tốt hơn.

Người bệnh không thể nào tự thoát khỏi triệu chứng của bệnh trầm cảm

  • Bệnh nhân cần nói chuyện, tâm sự với người nhà, bạn thân về căn bệnh trầm cảm để có thể thoát khỏi cảm giác tiêu cực mà bệnh gây ra, hoặc người bệnh chỉ cần thay đổi lối suy nghĩ tích cực hơn, nếu bệnh nhân càng cố gắng thực hiện thì tâm trạng sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Trầm cảm không phải là một biểu hiện, dấu hiệu của khiếm khuyết nào đó về nhân cách hay của một người yếu đuối. Thực tế cho thấy người đã thoát khỏi bệnh trầm cảm cần được  điều trị để tốt hơn, cải thiện hơn.
  • Nếu thành viên trong gia đình hoặc bạn bè có người phụ nữ mắc bệnh trầm cảm thì người xung quanh (người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) có thể giúp bệnh nhân về mặt cảm xúc. Những hành động có thể giúp ích cho người bệnh như tỏ ra hiểu biết, quan tâm họ, khuyến khích bệnh nhân thực hiện những việc tích cực hoặc kiên nhẫn với người bệnh. Tuyệt đối không bỏ qua cảm xúc của người bệnh bởi điều này sẽ tác động rất mạnh và xấu đến người bệnh, có thể làm bệnh trầm trọng, khó kiểm soát hơn. Người bệnh có thể sẽ cảm thấy tốt hơn nếu được nói chuyện, tâm sự và nhắc nhở về điều trị và thời gian điều trị.

Đa số người bệnh đều cần được điều trị để có thể cải thiện bệnh

  • Nếu bạn cho rằng mình đang có nguy cơ cao mắc bệnh trầm cảm, bạn nên hẹn gặp nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc bác sĩ (ví dụ như bác sĩ tâm thần hoặc nhà tâm lý học).
  • Một số tình trạng về sức khỏe hay một số loại thuốc như rối loạn tuyến giáp hoặc virus cũng có thể mang đến những triệu chứng gần giống như trầm cảm. Bác sĩ có thể loại bỏ các khả năng này bằng cách thực hiện một bài phỏng vấn, kiểm tra thể chất và xét nghiệm. Bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và thực hiện các thủ thuật tiếp theo sau khi nói chuyện và kiểm tra bệnh nhân.

Phân biệt giữa trầm cảm ở nữ giới và ở nam giới

Sự khác nhau giữa trầm cảm ở nam giới và ở nữ giới

  • Bệnh trầm cảm ở nữ giới thường xuyên rơi vào tình trạng tội lỗi và cố gắng tự tử nhiều hơn so với nam giới. Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ tự tử thành công ở nam giới lại nhiều hơn so với nữ giới.
  • Ở nữ giới, trầm cảm thường kéo dài hơn, xảy ra sớm hơn và khả năng tái phát bệnh cao hơn so với nam giới. Tình trạng này gây ra bởi sự căng thẳng trong một thời gian dài và có sự nhạy cảm đối với những biến đổi cảm xúc theo mùa.
  • Trầm cảm ở nữ giới thường có mối tương quan đến những rối loạn lo âu, đặc trưng nhất là các triệu chứng như ám ảnh, rối loạn ăn uống và hoảng loạn.

Tại sao trầm cảm ở nữ giới xảy ra nhiều hơn so với nam giới?

  • Trên thực tế, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh trầm cảm ở cả nam giới và nữ giới trước độ tuổi thiếu niên là tương đương nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ này sẽ tăng lên gấp đôi (nguy cơ ở nữ giới gấp hai lần nam giới) khi bước vào tuổi dậy thì.
  • Một số chuyên gia y tế nhận định rằng ở nữ giới, tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm có mối liên quan mật thiết đến sự thay đổi nồng độ hormone nội tiết tố trong suốt cuộc đời. Đặc trưng nhất ở những giai đoạn có sự thay đổi nồng độ hormone rõ rệt như dậy thì, mang thai, sinh con và mãn kinh.
Trầm cảm ở nữ giới xảy ra nhiều hơn so với nam giới
Trầm cảm ở nữ giới xảy ra nhiều hơn so với nam giới
  • Bên cạnh đó, hội chứng rối loạn kinh nguyệt nghiêm trọng (PMDD) hoặc hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) cũng có nguyên nhân xuất phát từ sự dao động nồng độ hormone theo chu kỳ kinh nguyệt mỗi tháng. Hiện tượng này là chứng bệnh có liên quan đến lo lắng, trầm cảm và sự thay đổi tâm lý xảy ra ở thời gian trước hành kinh một tuần và sẽ ảnh hưởng đến những hoạt động sinh hoạt thường ngày.

Tỷ lệ trầm cảm ở nam giới thấp hơn so với nam giới

  • Nữ giới, người chủ yếu phụ trách phần lớn công việc chăm lo gia đình là vợ và con gái. Tại Hoa KỲ, thống kê có khoảng 12 triệu người phụ nữ mắc bệnh trầm cảm lâm sàng mỗi năm. Tỷ lệ này cao gấp đôi so với nam giới. Bạn nên suy nghĩ lại nếu cho rằng trầm cảm chỉ là do mình tự nghĩ ra. Các yếu tố có thể gây ra bệnh trầm cảm như hội chứng tiền mãn kinh, mãn kinh, bệnh lý tuyến giáp, sinh đẻ và thiếu hụt chất dinh dưỡng thiết yếu như acid béo omega-3, sắt, vitamin D.
  • Kết quả nghiên cứu của Sức khỏe Tâm thần Mỹ đã chứng minh được rằng có nhiều phụ nữ không tiếp nhận điều trị bệnh trầm cảm do cảm thấy xấu hổ hoặc không được điều trị. Trên thực tế, có đến 41% nữ giới đã được khảo sát cho rằng rào cản điều trị bắt nguồn từ cảm giác thẹn thùng, xấu hổ. Bạn nên nhớ rằng, tất cả các vấn đề này bác sĩ đều đã từng nghe qua. Thực hiện khám sức khỏe toàn diện là một điều vô cùng quan trọng đối với cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần. Bạn nên dành một ít thời gian trong quá trình thăm khám sức khỏe để trao đổi với bác sĩ về vấn đề này nếu bạn  cảm thấy nghi ngờ mình mắc chứng trầm cảm.

Xem thêm: Bệnh lãnh cảm ở phụ nữ: Nguyên nhân, Triệu chứng, Cách điều trị

Ai dễ mắc bệnh trầm cảm ở phụ nữ

Trầm cảm ở phụ nữ có thai

Trầm cảm ở thời kỳ thai nghén hay còn gọi là trầm cảm trước sinh. Theo kết quả nghiên cứu từ Trung tâm trầm cảm ở Michigan thì có tới 10% phụ nữ có thai mắc phải những chứng muộn phiền. Trong số đó, phần lớn phụ nữ sẽ tiếp tục mắc trầm cảm sau khi sinh và có tới 2/3 các trường hợp này không được điều trị.

Trầm cảm ở phụ nữ có thai
Trầm cảm ở phụ nữ có thai

Chứng trầm cảm thời kỳ thai nghén có liên quan đến thay đổi nồng độ hormone nội tiết. Tuy nhiên, trong thời gian mang thai của người phụ nữ có thêm nhiều những yếu tố khác tham gia vào sự hình thành và phát triển của bệnh trầm cảm. Khủng hoảng tâm lý thời kỳ tiền sản có thể cộng hưởng từ những áp lực về tài chính, áp lực trong công việc hoặc khi người phụ nữ chưa sẵn sàng có con.

Hàng loạt các cảm xúc tiêu cực và các nỗi buồn dai dẳng dần dần sẽ tác động đến phụ nữ khiến họ có các thay đổi rõ rệt cả về nhận thức và thói quen của mình. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất của người mẹ và làm suy nhược cơ thể mẹ. Bên cạnh đó, chứng trầm cảm trước sinh còn mang đến nhiều nguy cơ sinh non do người mẹ yếu hoặc gây ra các biến chứng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển não bộ của trẻ nhỏ.

Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh

Phụ nữ rất dễ mắc bệnh trầm cảm sau sinh nếu tiền sử trước đó đã mắc trầm cảm lúc mang thai hoặc trước đó đã bị trầm cảm. Thực tế lâm sàng cho thấy hiện tượng ‘baby-blue’ (một thời kỳ tồi tệ của đã số thai phụ sau khi sinh con khoảng 2 tuần) rất dễ nhầm lẫn với chứng trầm cảm sau sinh. Tuy nhiên, những triệu chứng trầm cảm thường có xu hướng diễn ra âm thầm và kéo dài hơn. Đôi khi, người nhà không quan tâm đến sản phụ vì cho đó chỉ là các biểu hiện bình thường. Chỉ khi có kết quả nghiêm trọng, đau thương thì họ mới bắt đầu hồi tưởng lại các dấu hiệu ban đầu của sản phụ.

Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh

Thống kê cho thấy có khoảng 15% sản phụ sau sinh khoảng 3 tháng đầu sau sinh mắc bệnh trầm cảm. Căn nguyên của trầm cảm sau sinh và trầm cảm trước sinh là tương tự nhau. Phụ nữ thường xuyên cảm thấy mệt mỏi và dễ mất cân bằng do sự thay đổi nồng độ hormone nội tiết sẽ làm biến đổi về huyết áp và chuyển hóa miễn dịch. Tuy nhiên, áp lực làm mẹ và nhất là mẹ đẻ con đầu lòng thường làm cho các bà mẹ thực sự khủng hoảng ngay cả với chính bản thân mình.

Trầm cảm ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh

Bất kỳ người phụ nữ nào cũng đều phải trải qua thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh, đây là thời điểm quan trọng trong sức khỏe của người phụ nữ. Khi bước vào thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh, người phụ nữ sẽ bị suy giảm nồng độ nội tiết tố dẫn đến các thay đổi về tâm sinh lý và cơ thể. Trong thời kỳ này, phụ nữ gặp phải vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe là có nguy cơ đối mặt với trạng thái trầm cảm.

Trầm cảm ở phụ nữ tiền mãn kinh
Trầm cảm ở phụ nữ tiền mãn kinh

Phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh chưa được tìm ra nguyên nhân chính xác gây bệnh trầm cảm . tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân của sự thay đổi về tinh thần và thể chất khi người phụ nữ bước vào tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh là do mất cân bằng nồng độ hormone có trong cơ thể.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh thấy khó chịu cả về tinh thần lẫn sức khỏe là do trong thời kỳ tiền mãn kinh nồng độ estrogen thay đổi thất thường. Yếu tố được cho là then chốt làm phụ nữ đối mặt với bệnh trầm cảm là sự mất cân bằng nồng độ hormone trong giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh.

Biểu hiện bệnh trầm cảm ở phụ nữ

Những biểu hiện bệnh trầm cảm ở phụ nữ:

  • Tâm trạng lo lắng, buồn bã và luôn cảm thấy trống rỗng.
  • Thường xuyên mất niềm vui và hứng thú trong những hoạt động sinh hoạt thường ngày (ngay cả hoạt động tình dục).
  • Đa số phụ nữ mắc bệnh trầm cảm có biểu hiện cáu gắt, bồn chồn và đặc biệt là khóc nhiều.
  • Luôn rơi vào trạng thái tội lỗi, thiếu niềm tin vào cuộc sống, bất lực và tự ti về bản thân.
  • Đặc trưng ở những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm là thức dậy sớm vào buổi sáng và thời gian ngủ quá ít hoặc quá nhiều.
  • Thường xuyên ăn không ngon miệng dẫn đến giảm cân.
  • Đôi khi phụ nữ mắc bệnh trầm cảm lại ăn quá nhiều gây ra tăng cân, có thể dẫn đến béo phì nếu không được kiểm soát.
  • Luôn thấy mệt mỏi, thiếu năng lượng và cảm giác chậm lại.
  • Xét về mặt trí tuệ thì những người phụ nữ mắc bệnh trầm cảm thường khó có thể tập trung, đưa ra quyết định và ghi nhớ.
  • Mắc bệnh lâu ngày sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa kéo dài và đau đầu.
  • Rất nhiều trường hợp mắc bệnh nặng sẽ suy nghĩ về cái chết, cố gắng tự tế và tử tự.

Yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ

Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ đã công bố nguy cơ mắc trầm cảm ở nữ giới thường bị ảnh hưởng từ những yếu tố di truyền, sinh sản, tính cách nhất định và một số đặc điểm tâm sinh lý. Những đối tượng có nguy cơ cao dễ mắc bệnh trầm cảm là mẹ đơn thân và phụ nữ trong thời gian chăm con nhỏ. Những yếu tố cụ thể có thể kể đến như sau:

Yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ
Yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ
  • Có tiền sử gia đình mắc chứng rối loạn tâm trạng.
  • Trong những năm đầu sinh con có tiền sử rối loạn tâm trạng.
  • Trước 10 tuổi bị mất mẹ hoặc cha hoặc cả hai.
  • Có các yếu tố môi trường tác động gây ra cảm giác mất mát như bị cộng đồng xa lánh hoặc những yếu tố tương tự.
  • Căng thẳng, lo âu do các mối quan hệ, mất việc, ly hôn hoặc ly thân.
  • Khi còn nhỏ bị lạm dụng tình dục hoặc bị bóc lột sức lao động.
  • Do bị ảnh hưởng tác dụng của thuốc.
  • Phụ nữ sau khi sinh con và biểu hiện trầm cảm theo mùa, đặc biệt là vào mùa đông.

Cách điều trị bệnh trầm cảm ở phụ nữ

Những biện pháp được áp dụng trong quá trình điều trị bệnh trầm cảm bào gồm liệu pháp tâm lý cá nhân, thuốc chống trầm cảm và liệu pháp kích thích hoạt động của não bộ (ví dụ như ECT). Nếu người bệnh bị trầm cảm có nguyên nhân do lo âu, căng thẳng trong cuộc sống gia đình thì giải pháp điều trị bệnh cho người này có thể là trị liệu gia đình.

Bác sĩ tâm lý sẽ tư vấn và lựa chọn liệu trình điều trị hợp lý và tốt nhất cho bệnh nhân. Nếu không, bạn hoàn toàn có thể chọn lựa những sự trợ giúp điều trị khác từ cộng đồng như:

  • Chương trình hỗ trợ nhân viên.
  • Trung tâm sức khỏe tâm thần cộng đồng.
  • Bác sĩ gia đình.
  • Tổ chức bảo vệ sức khỏe.
  • Dịch vụ cơ quan, gia đình xã hội.
  • Phòng khám ngoại trú hoặc khoa tâm thần bệnh viện.
  • Trung tâm tâm thần địa phương hoặc trung tâm y tế.
  • Bệnh viện ngoại trú.
  • Những chuyên gia về sức khỏe tâm thần như nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, cố vấn sức khỏe tâm thần hoặc nhân viên xã hội.
  • Phòng khám tư nhân.
  • Những chương trình liên kết với các trường y dược hoặc trường đại học.

Ngay cả các trường hợp mắc bệnh trầm cảm vô cùng nặng cùng có thể điều trị bệnh được. Trầm cảm thường được áp dụng điều trị bằng tâm lý trị liệu, bằng thuốc. Trong khi đó, đôi khi bệnh nhân sẽ được áp dụng liệu pháp trò chuyện, tức là người bệnh sẽ nói chuyện với chuyên gia đã được đào tạo về chuyên môn. Bác sĩ có thể sẽ cân nhắc sử dụng liệu pháp kích thích não và liệu pháp chống co giật (ECT) nếu những biện pháp điều trị trên không giúp cải thiện và làm giảm các triệu chứng bệnh.

Ngày nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu trầm cảm để có thể cải thiện hơn phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh. Những nhà khoa học đang cố gắng nghiên cứu sự thay đổi hormone sinh sản đã gây ra rối loạn tâm trạng. Các chuyên gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao một số trường hợp lại có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn người khác và làm sao mới có thể chuyển các kết quả nghiên cứu đó thành biện pháp điều trị mới và có thể cải thiện những biện pháp hiện nay đang sử dụng.

Trầm cảm là bệnh liên quan mật thiết đến cơ thể và tâm trí, bệnh có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, phụ nữ mắc bệnh trầm cảm có nguy cơ cao do nhiều yếu tố như sinh con, áp lực cuộc sống, sau sinh,… chính vì vậy, cần nhanh chóng đi khám chuyên khoa sớm nhất nếu cảm thấy các triệu chứng trầm cảm ở chính mình, người thân xung quanh hoặc bạn bè để được điều trị bằng những liệu pháp tâm lý và thuốc sao cho phù hợp.

Sự ảnh hưởng của bệnh trầm cảm đối với phụ nữ

Bệnh trầm cảm thường bị nhầm lẫn với các triệu chứng khác và diễn ra âm thầm. Nếu không kịp thời điều trị có thể dẫn đến tình trạng tổn thương về tất cả các khía cạnh trong cuộc sống người bệnh:

Sự ảnh hưởng của bệnh trầm cảm đối với phụ nữ
Sự ảnh hưởng của bệnh trầm cảm đối với phụ nữ
  • Trầm cảm có thể gây ra ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội: những mối quan hệ của phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sẽ mất dần hoặc tồi tệ hơn. Do bệnh trầm cảm gây ra tình trạng ngại giao tiếp với mọi người xung quanh và dần thu hẹp không gian của chính mình.
  • Trầm cảm sẽ gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh: trầm cảm không chỉ ảnh hưởng đến tâm trí mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe bệnh nhân. Rất nhiều người mắc bệnh trầm cảm phải phối hợp điều trị song song với những chứng bệnh khác về hệ tim mạch hoặc hệ tiêu hóa. Bệnh nhân cũng có thể mắc bệnh đau nửa đầu hoặc có thể bị ngất với tần suất ngày càng nhiều do suy kiệt thể lực.
  • Trầm cảm sẽ làm thay đổi thói quen thường ngày của bệnh nhân: trầm cảm vừa thay đổi cảm xúc theo hướng tồi tệ hơn, vừa làm biến mất các thói quen hàng ngày một cách nhanh chóng. Bệnh có thể khiến một người có tính năng động bỗng chốc thay đổi trở nên chây ỳ, chẳng muốn làm gì và chỉ thích ở nhà một mình. Người bệnh có thể sẽ chẳng còn hứng thú với cả những điều bệnh nhân thường yêu thích thực hiện khi có thời gian rảnh rỗi. Tất cả chỉ là di bệnh nhân chỉ muốn đơn độc trong thế giới riêng và không thấy hạnh phúc, vui vẻ.
  • Trầm cảm kích hoạt các hành vi tiêu cực của bệnh nhân: bệnh sẽ diễn biến trầm trọng hơn khi đạt đến một giai đoạn nhất định nào đó. Trong giai đoạn bệnh nặng, bệnh nhân không chỉ dừng lại có mức độ mất ngủ hay buồn bã mà là nhận thức thay đổi hoàn toàn. Người bệnh cảm thấy như mình đang thừa thãi, vô dụng do trong tâm trí luôn trong trạng thái vang vọng tiếng buộc tội chỉnh bản thân mình.

Mối liên hệ giữa trầm cảm ở phụ nữ và kinh nguyệt

Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS), rối loạn kinh nguyệt nghiêm trọng (PMDD) có mối quan tâm với trầm cảm ở nữ giới:

  • PMS xảy ra ở khoảng ¾ phụ nữ có kinh nguyệt. PMS là một bệnh lý rối loạn đặc trưng bởi những triệu chứng gây ra thay đổi tinh thần và thể chất tùy theo mức độ dao động của hormone của từng chu kỳ kinh nguyệt. Bệnh lý PMS thường hay xuất hiện ở phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 30.
  • Rối loạn kinh nguyệt nghiêm trọng chiếm khoảng 3% đến 5% phụ nữ có kinh nguyệt. Bệnh lý PMS và PMDD có triệu chứng tương tự như nhau nhưng mức độ biểu hiện bệnh của PMDD nặng hơn PMS. Đặc biệt là các triệu chứng bệnh sẽ trở nên trầm trọng hơn khoảng 7 đến 10 ngày trước ngày hành kinh của chị em phụ nữ.
  • Mối liên hệ giữa bệnh lý PMDD và PMS với bệnh trầm cảm chưa được xác định một cách cụ thể và chính xác, những nhà khoa học hiện này chỉ mới nghi ngờ mối tương quan này. Yếu tố nguy cơ có thể là do mọi điều kiện gây ra tình trạng thay đổi hoạt động điều hòa tâm trạng của não bộ kèm theo sự dao động nồng độ hormone nội ti