Danh mục thuốc thiết yếu mới nhất do bộ y tế ban hành

Danh mục thuốc thiết yếu
Danh mục thuốc thiết yếu

Bài viết này Heal Central sẽ cung cấp cho các bạn những thông tin cơ bản nhất về một số thuốc thiết yếu tại Việt Nam, có mặt trong Danh mục thuốc thiết yếu của Bộ Y tế. Để tiện theo dõi, các thuốc sẽ được phân loại theo nhóm dược lý (có cùng tác dụng).
Chú ý các thuốc được giới thiệu trong nhóm này chỉ bao gồm các thuốc hóa dược (theo Luật Dược 2016), chủ yếu là đơn thành phần và chỉ sử dụng tên chung quốc tế (không sử dụng tên biệt dược).

Thuốc gây mê

Đây là nhóm thuốc ức chế thần kinh trung ương có hồi phục. Thuốc làm mất ý thức, phản xạ, cảm giác, làm cơ giãn mềm nhưng vẫn duy trì được các chức năng sinh mạng của cơ thể như tuần hoàn và hô hấp. Thuốc thường được sử dụng trong phẫu thuật.
Gây mê bao gồm 4 thời kì: giảm đau (1), kích thích (2), phẫu thuật (3) và liệt hành tủy (4). Trong đó để phẫu thuật thì cần gây mê rơi vào thời kì (3) và không được để nó lên đến thời kì (4). Vì vậy mà gây mê là một lĩnh vực khó và thường cần bác sĩ riêng phụ trách vấn đề này.
Các thuốc thiết yếu bao gồm: Fentanyl, ketamine, thiopental (đường tiêm) và halothane (đường hô hấp).

Thuốc gây tê

Bupivacain
Bupivacain

Thuốc gây tê là các thuốc có khả năng ức chế có hồi phục sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh từ ngoại biên về trung ương. Do đó, thuốc làm mất cảm giác tạm thời một vùng cơ thể.
Các thuốc thiết yếu: Bupivacain, lidocain (có thể kết hợp với adrenaline), procain, tetracain và ephedrine. Tất cả các thuốc này đều dùng đường tiêm.

Thuốc an thần, gây ngủ

Thuốc Valium
Thuốc Valium

Đây đều là các thuốc ức chế thần kinh trung ương. Chúng có tác dụng đa dạng tuy nhiên thường phụ thuộc liều. Liều thấp thuốc có tác dụng an thần (giảm lo lắng, bồn chồn), liều trung bình có tác dụng gây ngủ, liều cao có tác dụng dụng gây mê, liều độc (quá cao) sẽ gây hôn mê và tử vong. Các thuốc thiết yếu bao gồm:
Dẫn xuất benzodiazepine: Diazepam, midazolam.
Dẫn xuất barbiturat: Phenobarbital.

Thuốc giảm đau trung ương

Thuốc giảm đau trung ương là nhóm thuốc giảm đau không tác dụng lên nguyên nhân gây đau, không làm mất ý thức. Phổ biến nhất trong nhóm này là opioid (thuốc giảm đau gây ngủ), có tác dụng giảm đau mạnh và sâu trong nội tạng.
Đa phần các thuốc này đều có khả năng gây nghiện và nằm trong Danh mục thuốc quản lý đặc biệt của Bộ Y tế.

Thuốc kiểm soát đặc biệt Morphin
Hình ảnh: Thuốc kiểm soát đặc biệt Morphin

Bao gồm: Fentanyl (dùng trong gây mê), methadone (dùng trong cai nghiện ma túy), morphin và pethidin (giảm đau cho bệnh nhân ung thư).
Đặc biệt: Naloxone dùng giải độc quá liều opioid.

Thuốc chống động kinh

phenytoin
Thuốc phenytoin

Đây là nhóm thuốc giúp loại trừ hoặc làm giảm tần số và mức độ nghiêm trọng của các cơn động kinh cũng như các triệu chứng tâm thần kèm theo.
Các thuốc bao gồm: Carbamazepine, phenytoin và acid valproic.
Khác: Phenobarbital, diazepam, magie sulfate và ethosuximide.

Thuốc điều trị Parkinson

Levodopa + carbidopa và biperiden.
Hình ảnh: Thuốc kết hợp Levodopa + carbidopa và biperiden.

Các thuốc này làm giảm tiến triển cũng như các triệu chứng bệnh Parkinson: Levodopa + carbidopa và biperiden.

Thuốc kích thích thần kinh trung ương

caffeine
Thuốc caffeine

Các thuốc trong nhóm này có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giúp hồi phục các trung tâm hô hấp, vận mạch khi chúng bị suy yếu ở mức độ nhẹ và vừa.
Hầu hết chúng đều làm tăng nhịp tim và tiêu thụ oxy cơ tim thông qua hệ giao cảm.
Thuốc thiết yếu bao gồm cafein: Dùng cho trẻ sơ sinh thiếu tháng.

Thuốc ức chế tâm thần

Đây là các thuốc an thần mạnh, điều trị rối loạn tâm thần hưng cảm (hoang tưởng, ảo giác, lo sợ…). Ở liều điều trị, thuốc không gây ngủ, nhưng vẫn có tác dụng trên thần kinh trung ương và thần kinh thực vật: hạ huyết áp, chống nôn, hội chứng ngoại tháp, rối loạn nội tiết…
Các thuốc bao gồm: Chlorpromazine, levomepromazine, diazepam, haloperidol, risperidone, sulpiride và fluphenazine.

Thuốc risperidone
Thuốc risperidone

Đặc biệt:
Lithium carbonate là thuốc điều hòa hoạt động tâm thần.

Thuốc chống trầm cảm

Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý thể hiện ở việc ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần. Ba rối loạn cơ bản của trầm cảm: giảm khí sắc, giảm hoạt động và giảm hứng thú.
Thuốc nhóm này làm giảm các triệu chứng của trạng thái trầm cảm (u sầu, chán nản, thất vọng…), lấy lại cân bằng tâm thần.

Thuốc fluoxetine
Hình ảnh: Thuốc fluoxetine

Thuốc ức chế tái thu hồi serotonin chọn lọc (SSRIs): Fluoxetine.
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCAs): Amitriptyline.

Thuốc tác động lên hệ thần kinh thực vật

Thần kinh thực vật bao gồm 2 thành phần là hệ giao cảm và hệ phó giao cảm luôn hoạt động song song, có chức năng đối ngược nhau nhưng luôn hỗ trợ và bổ sung cho nhau, cùng nhau điều chỉnh các chức năng cơ thể.

Thuốc cường giao cảm (kích thích adrenergic)

salbutamol
Hình ảnh: Thuốc salbutamol

Các thuốc này kích thích receptor của hệ adrenergic và gây ra các đáp ứng như các chất nội sinh. Hệ adrenergic gồm các receptor chủ yếu là α1, α2, β1, β2 và β3. Trong đó bao gồm các thuốc cụ thể:
Thuốc kích thích α1-adrenergic: Naphazolin, xylometazoline, ergometrin.
Thuốc kích thích α2-adrenergic: Methyldopa.
Thuốc kích thích β1-adrenergic: Dobutamine.
Thuốc kích thích β2-adrenergic: Salbutamol và terbutaline.
Thuốc kích thích cả α và β-adrenergic: Adrenaline và dopamine.

Thuốc hủy giao cảm (ức chế adrenergic)

atenolol
Hình ảnh: Thuốc atenolol

Các thuốc này có tác dụng ngược trên receptor hệ adrenergic so với nhóm trên. Chúng bao gồm:
Thuốc ức chế trực tiếp β-adrenergic: Có thể là chọn lọc trên β1 như atenolol, nhưng cũng có thể là không chọn lọc trên β1 như propranolol.

Thuốc kích thích cholinergic

Thuốc kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp lên hệ cholinergic, bao gồm các receptor của hệ là M (muscarinic) và N (nicotinic). Các thuốc nhóm này bao gồm:
Thuốc kích thích trực tiếp hệ M: Pilocarpine.
Thuốc kích thích gián tiếp hệ M và N: Neostigmine và pyridostigmine (làm mất hoạt tính của acetylcholinesterase).

Thuốc ức chế cholinergic

Các thuốc nhóm này ức chế trực tiếp trên receptor hệ cholinergic là M và N hoặc gián tiếp làm giảm lượng acetylcholin ở synap thần kinh hệ cholinergic. Chúng bao gồm:
Thuốc ức chế hệ M: Tropicamide, atropin, hyoscine (scopolamine), ipratropium.
Thuốc ức chế hệ N: Pancuronium, suxamethonium, alcuronium, veruconium (các thuốc này đều làm mất tác dụng của acetylcholin trên receptor Nm của bản vận động cơ vân).

Thuốc tác dụng trên tim mạch

Các thuốc nhóm này tác động lên nhiều yếu tố liên quan đến tim mạch, bao gồm đường kính lòng mạch, huyết áp, sức co bóp của tim, cung lượng tim, nhịp tim, điện thế hoạt động, thời gian trơ, tốc độ dẫn truyền… Phân loại theo các nhóm cụ thể bao gồm:

Thuốc điều trị suy tim

Glycoside tim: Digoxin.
Cường β-adrenergic: Dobutamine, dopamine, adrenaline.
Thuốc ức chế men chuyển: Enalapril.
Lợi tiểu: Furosemide, hydrochlorothiazide, spironolactone (dùng lợi tiểu kháng aldosterone ngay từ đầu khi mới bị chẩn đoán suy tim).

aldactone
Thuốc aldactone

Thuốc điều trị loạn nhịp tim

Nhóm IB: Lidocain.
Nhóm II: Atenolol, propranolol.
Nhóm III: Amiodarone.
Nhóm IV: Verapamil.
Khác: Digoxin, adrenaline.

Thuốc Amiodarone hydrochloride
Hình ảnh: Thuốc Amiodarone hydrochloride

Thuốc điều trị đau thắt ngực

Chẹn β-adrenergic: Atenolol.
Chẹn kênh calci: Diltiazem.
Nitrate hữu cơ: Glyceryl trinitrate, isosorbide dinitrate hoặc mononitrate.

Thuốc điều trị tăng huyết áp

Chẹn kênh calci: Amlodipine, nifedipine.
Chẹn β-adrenergic: Propranolol, atenolol.
Ức chế men chuyển: Captopril, enalapril.
Cường α2-adrenergic: Methyldopa.
Lợi tiểu: Furosemide, hydrochlorothiazide.
Thuốc giãn mạch trực tiếp: Hydralazin.

Thuốc Lasix
Hình ảnh: Thuốc Lasix

Thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu là thuốc làm tăng thể tích nước tiểu chủ yếu nhờ tăng thải natri và nước ở ngoại bào. Các nhóm thuốc lợi tiểu thường gặp:

Lợi tiểu ức chế CA

Acetazolamide (tuy nhiên hiện nay nó được dùng với mục đích làm giảm nhãn áp).

Lợi tiểu quai

Chỉ gồm có furosemide.

Lợi tiểu thiazide

Chỉ gồm có hydrochlorothiazide.

Lợi tiểu giữ kali

Chỉ gồm có spironolactone.

Lợi tiểu thẩm thấu

Thuốc manitol
Hình ảnh: Thuốc manitol

Chỉ gồm có mannitol.

Thuốc hạ lipid máu

Thuốc hạ lipid máu, hay còn gọi là thuốc điều trị tăng lipoprotein máu, là một nhóm thuốc lớn điều trị một số chứng rối loạn chuyển hóa gây tăng lipoprotein máu, thường có tăng LDL, tăng cholesterol toàn phần, tăng triglyceride huyết tương, giảm HDL. Phân loại các thuốc nhóm này bao gồm:

Thuốc ức chế HMG-CoA reductase

Bao gồm 2 thuốc: Atorvastatin và simvastatin.

Thuốc chủ vận PPAR-α